Theo truyền thuyết, thời kỳ thượng cổ Nghiêu Thuấn, con người đã bắt đầu dùng vũ điệu vận động để điều trị các chứng rối loạn vận động khớp. Đến thời Xuân Thu Chiến quốc, con người qua thực tiễn, khám phá dần dần tổng kết ra các phương pháp thể dục y học như “Dao dẫn thuật” (tức là bài tập thể dục dưỡng sinh) và “Thử nạp thuật” (tức là bài tập hô hấp dưỡng sinh) để phòng và chữa bệnh. Năm 1974, tại mộ số 3 của ngôi mộ Han ở Mã Vương Đài, Trường Sa, Hồ Nam, người ta phát hiện bức tranh “Dao dẫn đồ” – bản vẽ màu công phu sớm nhất về thể dục dưỡng sinh hiện còn, là tác phẩm khoảng cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Trong bức tranh, các động tác thể dục nam nữ ở các độ tuổi khác nhau được miêu tả bằng màu sắc, có hơn 40 động tác, bên cạnh còn có ghi chú ngắn gọn bằng chữ. Số lượng nam nữ trong tranh khoảng bằng nhau. “Dao dẫn đồ” không chỉ có niên đại sớm mà nội dung còn rất phong phú, nó giúp tìm lại tài liệu hình ảnh sớm nhất về nhiều phương pháp dao dẫn và tập thể dục dưỡng sinh mà các văn kiện cổ xưa đã thất truyền, cung cấp线索 quý giá cho việc nghiên cứu sự phát triển và biến đổi của dao dẫn. Từ đó chúng ta có thể thấy một số khía cạnh về thể dục y học: Dao dẫn đồ một Dao dẫn đồ hai I. Bài tập hô hấp: Các bài tập hô hấp trong “Dao dẫn đồ” Ma Vương Đài không hoàn toàn giống với “thai bản pháp” (pháp thở Đan điền) truyền thống cổ xưa. Trong ghi chú chữ có hai chỗ trực tiếp đề cập đến hô hấp. Ví dụ như “Ấn (ngửa) huy (hô)” và “Tiếu (khỉ) trinh”. Trong cổ xưa, “Ấn hôn” là ý nghĩa ngửa người kêu to, “Lung hôn” là âm thanh kêu gầm của khỉ. Hình dáng trong tranh là ngực mở rộng, hai tay giơ ngược ra sau, động tác này nhằm tăng cường luyện tập chức năng tim phổi. II. Bài tập vận động chi thể: Trong “Dao dẫn đồ”, ngoài một vài động tác ngồi xuống, quỳ (ngồi), phần lớn đều là động tác đứng. Tám động tác trong bài tập thể dục phổ thông lần thứ năm hiện nay cơ bản tổng hợp tinh hoa của “Dao dẫn đồ”. Ví dụ như động tác cánh tay là “Long đăng”, động tác đấm là “Mã (chấn)”, động tác mở ngực là “Ấn xuy”, động tác nghiêng người là “Thương lang”; động tác bụng lưng là “Mãn chính”, động tác nhảy là “Dẫn cảnh”, “Tọa dẫn bát vi”, cùng với các động tác đá chân và xoay người có hình mà thiếu chữ. Thêm nữa, các hình ảnh tương tự như chim, gấu, khỉ trong “Ngũ cầm tịch” cho thấy “Ngũ cầm tịch” của Hoa Đà có mối quan hệ lịch sử nhất định với “Dao dẫn đồ” Ma Vương Đài. III. Bài tập dùng dụng cụ: Ngoài các động tác không dùng dụng cụ, “Dao dẫn đồ” còn phát hiện các động tác dùng gậy, dáng như cúi người xoay người, hai tay cầm gậy. Ghi chú chữ là “Dùng văn (gậy) thông âm dương”. Còn có động tác cúi người xoay người, dưới chân có vật hình cầu, cũng là dáng của động tác dùng dụng cụ. IV. Mối quan hệ giữa dao dẫn và chữa bệnh: Trong ghi chú chữ của “Dao dẫn đồ” có 12 chỗ trực tiếp đề cập đến chữa bệnh, như “Phiền”, “Đau minh”, “Dẫn lung”, “Dẫn ôn bệnh”… cho thấy dao dẫn không chỉ liên quan chặt chẽ đến các chứng đau khớp, hệ tiêu hóa như bụng, các cơ quan cảm giác như tai mắt, mà còn có liên hệ với điều trị một số bệnh truyền nhiễm. “Dao dẫn đồ” Ma Vương Đài phản ánh bốn khía cạnh trong thể dục y học đủ để chứng minh Trung Quốc là một trong những quốc gia sớm nhất áp dụng thể dục y học trên thế giới. Các học giả châu Âu như Matin Luen thừa nhận rằng phương Tây đã thông qua giới thiệu của ông Ai đã sao chép từ Trung Quốc các bài tập thể dục y học. Tiến sĩ khoa học Anh Lý Uất Tế cũng cho rằng các bài tập thể dục y học hiện đại phương Tây thực chất là biến thể từ các bài tập thể dục cổ xưa Trung Hoa truyền sang châu Âu. Vì vậy, các học giả phương Tây gọi Trung Quốc là “quê hương của thể dục y học”.
|