Mỗi năm sau tiết Lập Thu, một số người thể trạng yếu thường có thói quen tự chế biến thực phẩm thuốc tại nhà, đồng thời nhiều cửa hàng cũng quảng cáo “thực phẩm thuốc bổ mùa thu”. Tuy nhiên, thực phẩm thuốc truyền thống Trung Hoa tuyệt đối không đơn giản là sự pha trộn giữa thực phẩm và dược liệu, mà là sản phẩm đặc biệt được chế biến tinh tế từ dược liệu, thực phẩm và gia vị dưới sự hướng dẫn của lý luận phối hợp theo chứng trạng y học cổ truyền, vừa có công dụng dược lý, vừa có hương vị thực phẩm, dùng để phòng bệnh, chữa bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Nếu không có kiến thức y học mà tự ý chế biến hoặc ăn uống thực phẩm thuốc bổ, khó tránh khỏi sai lầm. Nguyên liệu chính của thực phẩm thuốc là dược liệu. Trong số hơn 4.000 vị dược liệu thường dùng, có khoảng 500 vị có thể dùng làm nguyên liệu thực phẩm thuốc, trong đó khoảng 60 vị an toàn, vị ngon, hương thơm, như thiên ma, nhân sâm, đỗ trọng, phục linh, đương quy, sa sâm, trần bì, châu châu phấn, đông trùng hạ thảo, quyết minh tử, thiên đông, đinh hương, hoàng kỳ, bạch thược, đảng sâm, kỷ tử, cam thảo, mạch môn, lộc dung, sơn dược, thục địa, linh chi, thục địa, v.v., chủ yếu là dược liệu thực vật. Những dược liệu “dược thực đồng nguyên” này khi phối hợp với thực phẩm cần tuân thủ lý luận y học cổ truyền, để các tác dụng bổ trợ lẫn nhau, hài hòa, nếu không sẽ xảy ra sai sót hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả. Y học cổ truyền có quy định nghiêm ngặt về cấm kỵ. Bao gồm cấm kỵ phối hợp dược liệu, cấm kỵ phối hợp thực phẩm thuốc với thực phẩm, cấm kỵ phối hợp thực phẩm và cấm kỵ ăn uống theo bệnh. Theo lý luận y học cổ truyền, thể chất con người có thể khác nhau do di truyền, môi trường sống, chế độ ăn uống, thói quen sinh hoạt, v.v., mỗi thể chất có biểu hiện khác nhau về sinh lý, bệnh lý, tâm lý. Điều quan trọng nhất khi chế biến và sử dụng “thực phẩm thuốc” là “biện thể thi thực”, người thể hàn không nên dùng thuốc lạnh, người thể hỏa vượng không nên bổ ấm, chỉ bổ đủ chỗ thiếu mới là “tặng than trong lúc băng giá”. Trong điều trị thực phẩm thuốc, không chỉ cần chú ý đến tính vị của dược liệu không dùng trong ăn uống, mà còn cần chú ý đến tính vị của dược liệu dùng trong ăn uống. Về cơ bản, dược liệu ăn uống tính ấm, tính nhiệt như gừng, hành tây, táo đỏ, hồ đào, thịt cừu, hạt thì là, v.v., có tác dụng ôn trung, tán hàn, trợ dương, dùng để điều trị chứng hàn, chứng âm; dược liệu ăn uống tính mát, tính lạnh như đậu xanh, củ sen, dưa hấu, lê, củ sắn, rau má, cúc hoa, v.v., có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết, giải độc, dùng để điều trị chứng nhiệt, chứng dương. Về ngũ vị, dược liệu ăn uống vị chua như mai, quả mận, v.v., có tác dụng thu liễm, cố sáp; vị đắng như khổ qua, hạnh nhân, v.v., có tác dụng thanh nhiệt, giáng khí, tả hỏa, táo thấp; vị ngọt như táo đỏ, mật ong, mạch nha, v.v., có tác dụng bổ dưỡng, điều hòa, giảm đau nhanh; vị cay như gừng, hành tây, v.v., có tác dụng phát tán, hành khí; vị mặn như hải tảo, hải sâm, v.v., có tác dụng mềm kiên tán kết; vị nhạt như phục linh, ý dĩ nhân, v.v., có tác dụng thải thấp, lợi tiểu. Nấu thực phẩm thuốc chủ yếu dựa vào “đun, nấu, hầm, hấp”, cuối cùng đều thành “canh”, giúp dược liệu và thực phẩm trong quá trình đun nóng kéo dài, giải phóng tối đa thành phần có hiệu lực, tăng cường hiệu quả. Đặc điểm nấu thực phẩm thuốc là giữ nguyên vị gốc của dược liệu và thực phẩm, vừa có tác dụng bổ dưỡng, vừa có hương vị món ăn ngon miệng, kích thích khẩu vị, từ đó đạt được hiệu quả rõ rệt. “Ăn uống có tiết độ” là nguyên tắc dưỡng sinh quan trọng trong y học cổ truyền, thực phẩm thuốc cũng cần ăn vừa phải, có kiểm soát. Không nên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn, không nên nóng lòng mong đạt kết quả nhanh. Cần căn cứ vào tình trạng bản thân, ăn nhỏ thường xuyên, kiên trì lâu dài, chắc chắn sẽ đạt hiệu quả.
|