Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Chăm sóc sức khỏe Đông y / Điều dưỡng ăn uống dưỡng sinh mùa thu trong Đông yBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Điều dưỡng ăn uống dưỡng sinh mùa thu trong Đông y

Mùa thu, trong điều dưỡng ăn uống, trước tiên phải tuân theo nguyên tắc "dưỡng âm vào thu đông" được nêu trong "Hoàng Đế Nội Kinh", nghĩa là nên ăn nhiều thực phẩm dưỡng âm nhuận khô để phòng ngừa khô mùa thu tổn thương âm. Cụ thể, các thực phẩm sau đây có thể lựa chọn.
Đông nhung: còn gọi là bạch nhung, là một loại thực phẩm bổ quý giá có tác dụng bồi bổ. Nó chứa nhiều axit amin, vitamin và glycogen, có công dụng bổ vị, nhuận phổi sinh tân, tỉnh thần, kiện vị, ích khí, kiện não, thường dùng để điều trị ho do hư lao, đờm có máu, băng huyết ở phụ nữ, thể trạng yếu ở người già, gầy yếu, ăn kém, v.v. So với mộc nhĩ đen, nó có tính hơi lạnh, công dụng dưỡng âm sinh tân mạnh hơn.
Đường mía: vị ngọt, chua, tính bình, có công dụng dưỡng âm nhuận khô, hòa vị chỉ nôn, thanh nhiệt giải độc, phù hợp với các chứng do thiếu dịch thể như miệng khô, táo bón, ho ít đờm; do thiếu dịch vị dạ dày gây nôn; do nhiệt tổn thương dịch thể gây khát nước, bực bội, là thực phẩm bổ dưỡng thích hợp cho mùa thu.
Tổ yến: là thực phẩm bổ quý hiếm, là tổ của chim yến mưa thuộc họ chim yến và một số loài chim yến cùng họ, được xây dựng bằng nước bọt hoặc nước bọt kết hợp với lông vũ, hàm lượng protein đặc biệt cao, công dụng dưỡng âm nhuận khô, ích khí bổ trung, có công dụng kéo dài tuổi thọ. Phù hợp với các chứng do âm hư phổi gây ra như sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm, ho khan, đờm ít, ho ra máu; đối với các chứng do âm hư vị gây ra như nghẹn ăn, nôn trớ, tự ra mồ hôi do khí hư cũng có hiệu quả tốt.
Lê: tính hàn, vị ngọt, có công dụng nhuận phổi, tiêu đờm,止khái, hạ hỏa, thanh tâm, phù hợp với các chứng khô mùa thu hoặc nhiệt bệnh tổn thương âm như ho khan, khát nước, táo bón, cũng như các chứng do nội nhiệt gây ra như khát nước, ho, thở gấp, đờm vàng, v.v.
Đậu phộng: tính vị ngọt bình, có công dụng dưỡng âm nhuận khô, bổ thận ích não,止khái bình thuyên, phù hợp với các chứng do thiếu dịch thể gây ra như táo bón do ruột khô, da khô, hoặc do tinh huyết gan thận thiếu gây ra chóng mặt, tóc bạc sớm, đau lưng mỏi gối; ngoài ra, đối với sản hậu huyết hư, sữa ít cũng hiệu quả.
Thịt rùa: là thực phẩm bổ quý hiếm, thịt ngon, dễ tiêu hóa hấp thu, thúc đẩy tuần hoàn máu, có thể dưỡng âm lương huyết ích khí, thường dùng để điều trị các chứng do âm hư gan thận gây ra như sốt nhẹ do xương, đau lưng, băng huyết, khí hư, hoặc do khí hư sa sút gây ra sa trực tràng, v.v.
Củ sen: tính vị ngọt mát, là dược liệu tốt để cầm máu, sinh tân, giàu tinh bột, canxi, phốt pho, sắt và nhiều vitamin, đặc biệt hàm lượng vitamin C cao nhất.
Rau chân vịt: tính vị ngọt mát, có thể dưỡng âm nhuận khô, bổ huyết, thông lợi ruột, dùng cho các chứng do thiếu dịch thể như khát nước, táo bón, thiếu máu, và các chứng xuất huyết như chảy máu cam, đại tiện ra máu, v.v.
Gà trống đen: Lý Thời Trân nói: "Gà trống đen có màu trắng lông đen xương, màu đen lông đen xương, lông đốm đen xương, có cả thịt và xương đen, thịt trắng xương đen. Chỉ cần thấy lưỡi gà đen thì thịt và xương đều đen, dùng làm thuốc tốt hơn. ... Dùng cho các chứng bệnh huyết phân can thận, nam dùng cái cái, nữ dùng cái đực, phụ nữ có phương thuốc "U kê hoàn", chữa các chứng bệnh phụ nữ. Nấu gà đến nhừ, trộn với thuốc, hoặc nghiền cả xương dùng." Từ đó có thể thấy, gà trống đen được xem là "thần dược phụ khoa", dùng làm món ăn bổ dưỡng vào mùa thu đông rất hiệu quả, công dụng dưỡng âm thanh nhiệt, bổ can ích thận, kiện tỳ chỉ tả, thường dùng cho các chứng hư lao, khát nước, tiêu chảy, tả, băng huyết, khí hư, v.v., đối với các chứng âm hư như năm tâm bực bội, sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm, gầy yếu, môi đỏ, ho, hiệu quả tốt hơn.
Phổi heo: vị ngọt, tính hơi lạnh, công dụng bổ phổi, nếu ho do phổi hư, có thể dùng một cái phổi heo, cắt thành miếng bằng dao, xào với dầu mè, nấu chung với gạo thành cháo ăn; hoặc rửa sạch phổi heo, cho vào năm tiền cam thảo, hầm chín ăn. Y học cổ truyền cho rằng phổi tương ứng với mùa thu, vì vậy phổi heo nên ăn nhiều vào mùa thu, "bổ theo nội tạng".
Sữa đậu nành: là sản phẩm được làm từ đậu nành ngâm, xay thành nước, lọc bỏ bã, đun sôi. Tính vị ngọt bình, công dụng bổ hư nhuận khô, thanh phổi hóa đờm, thông lâm. Thường dùng cho thể trạng yếu, huyết khí hư sau sinh, ho kéo dài do phổi hư, đờm lửa, hen suyễn, và các chứng lâm, v.v.
Đường mạch nha: vị ngọt, hơi ấm, có công dụng bổ hư, nhuận phổi, chỉ khái, giảm đau, giảm khí. Sản phẩm này giàu dinh dưỡng, được làm từ gạo nếp, gạo tẻ, mạch nha, hạt kê, qua quá trình hấp, nấu, thêm men mạch nha lên men đường hóa thành thực phẩm dạng đường, dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người thể hư, trẻ nhỏ, sản phụ; đối với chứng phổi hư hoặc phổi khô đờm ít, mệt mỏi ho, cũng có hiệu quả; ngoài ra, còn dùng cho chứng vị dương hư hoặc khí hư gây đau bụng, v.v.
Trứng vịt: vị ngọt mặn, tính mát, công dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, dùng cho các chứng do âm hư gây ra như ho ít đờm, họng khô đau, hoặc do phổi vị hư nhiệt gây ra khát nước, ho đờm, đại tiện khô, v.v.
Mật ong: vừa là thực phẩm bổ dưỡng tốt, vừa là thuốc chữa nhiều bệnh.《Thần Nông Bản Thảo Kinh》nói: "An ngũ tạng, các thiếu sót, ích khí bổ trung, chỉ đau giải độc, trừ nhiều bệnh, hòa trăm thuốc, dùng lâu mạnh trí nhớ, nhẹ thân thể, kéo dài tuổi thọ." Trên thực tế đúng như vậy, mật ong chứa 39% fructose, 34% glucose, hai loại đường đơn này đều có thể cung cấp năng lượng trực tiếp, bổ sung dịch thể, nuôi dưỡng toàn thân. Đối với các chứng do thiếu dịch thể, âm hư vị, khí hư gây đau dạ dày, đều có hiệu quả nhất định.
Thịt rùa: là thịt của rùa, là thực phẩm bổ dưỡng tốt. Vừa có thể dưỡng âm hạ hỏa, vừa có thể bổ huyết thanh nhiệt. Thường dùng cho các chứng do âm hư hỏa vượng gây ra như sốt nhẹ do xương, ho ra máu, đại tiện ra máu; đối với các chứng do âm huyết thiếu gây ra đau nhức gân cốt, yếu mềm, cũng hiệu quả. Khi dùng cần chú ý không nên ăn cùng thịt heo, rau dền, dưa, có thể dùng hành, hồ tiêu, muối để nêm, hoặc dùng muối để nêm, cũng có thể dùng đất nung bọc nấu chín ăn.
Oliu: là quả thịt cứng, ăn vào vị chua chát, nhai xong vị ngọt, có hàm lượng canxi cao trong nhóm trái cây, mỗi 100 gram thịt quả chứa 204 ml canxi. Olive có hai loại: châu Âu và Trung Quốc. Loại châu Âu gọi là ôliu đen, vị ngọt chua, tính bình, có công dụng khai vị tiêu tích, giải mùi tanh, giảm viêm sưng; loại Trung Quốc gọi là ôliu xanh, là "quả phổi vị", là loại quả ăn uống tốt, có công dụng thanh phổi lợi hầu, hóa đờm tích, giải độc sinh tân, có thể chữa đau họng, ho do khô mùa thu, ăn ít, tích tụ, ngộ độc cá thu, v.v. Mùa thu khí hậu khô, nếu ăn thường xuyên 2–3 quả ôliu, có thể sinh tân, phòng ngừa nhiễm trùng đường hô hấp trên.
Ngoài các thực phẩm trên có tác dụng dưỡng âm nhuận khô, một số món ăn thuốc cũng có thể ăn, ví dụ như:
Đoàn ngư tham mạch (phương pháp bổ dưỡng của quán ăn bổ dưỡng Thành Đô Đồng Nhân Đường)
Chọn một con đoàn ngư sống nặng khoảng 500–1000 gram, chặt đầu cổ, xả sạch máu, cho vào chén, đổ nước sôi vào, ngâm 3 phút, vớt ra, dùng dao cạo sạch lớp màng đen ở lưng và phần viền, bóc lớp áo trắng ở bốn chân, chặt bỏ móng và đuôi, đặt lên thớt, dùng dao chặt mở vỏ bụng, lấy nội tạng ra, rửa sạch để dùng.
Đặt chảo lên bếp, cho nước và đoàn ngư vào, khi sôi dùng lửa nhỏ đun khoảng 30 phút, vớt ra, ngâm trong nước ấm, tách bỏ mỡ vàng, loại bỏ mai lưng và mai bụng, xương chân to, rửa sạch, cắt thành miếng vuông khoảng 3 cm, xếp vào bát.
Chọn 100 gram thịt chân giò heo, thái thành miếng nhỏ, 25 gram mỡ sống thái thành hạt, phủ lên trên đoàn ngư, dùng một nửa số gia vị (10 gram hành, 5 gram gừng, 3 gram muối, 250 gram nước dùng, 7,5 gram rượu绍), pha thêm nước dùng thích hợp đổ vào bát.
Cho 20 gram mạch môn, 10 gram phục linh vào vải gói, thả vào nước, 5 gram nhân sâm đập thành bột nhỏ rắc lên mặt, dùng giấy bông ẩm bịt kín, đậy nồi hấp đến khi chín nhừ, thời gian khoảng 2–3 giờ.
Khi đoàn ngư ra khỏi nồi, bỏ hành, gừng, đổ nước dùng ra, đảo đoàn ngư vào bát, nước dùng đổ vào muỗng, dùng nửa số gia vị còn lại và hạt nêm điều chỉnh (10 gram hành, 5 gram gừng, 3 gram muối, 250 gram nước dùng, 7,5 gram rượu绍, 0,5 gram hạt nêm), đun sôi, bỏ bọt, đập một quả trứng vào, đun một lúc, rưới lên đoàn ngư là xong.
Món ăn thuốc này có công dụng dưỡng âm, ích khí, bổ hư, đối với bệnh nhân yếu, sốt nhẹ do âm hư, ra mồ hôi trộm, mệt mỏi, thở ngắn, có tác dụng hỗ trợ điều trị. Ăn vào mùa thu có thể phòng ngừa và điều trị tổn thương âm do tà khô.
Mật ong hấp bách hợp (《Thực dưỡng bản thảo học》)
Cho 120 gram bách hợp, 30 gram mật ong, trộn đều, hấp đến khi mềm. Nhỏ vài miếng, nuốt nước bọt, nhai ăn.
Món ăn thuốc này có công dụng bổ phổi, nhuận khô, thanh nhiệt, phù hợp với các chứng như nóng trong phổi, bực bội, ho do khô, đau họng, v.v.
Canh ôliu chua (《Phương pháp ăn uống chữa bệnh》)
Cho 60 gram ôliu tươi (có cả hạt), 10 gram quả chua, rửa sạch, nghiền nhỏ, thêm 3 chén nước, sắc còn 1 chén, bỏ bã, thêm đường trắng điều chỉnh vị.
Món ăn thuốc này có công dụng thanh nhiệt giải độc, sinh tân khát, phù hợp với viêm họng cấp, viêm hạch cấp, ho đờm đặc, khát nước do rượu, v.v. Uống một bát canh ôliu chua sau bữa ăn mùa thu có thể thanh họng, nhuận khô, sinh tân, loại bỏ tà khô tổn thương phổi.
Chè hoa nguyệt quế lê tuyết đông nhung (《Tư vấn thực dưỡng bảo kiện Trung Hoa》)
Dùng 3 bông hoa nguyệt quế, 5 gram bối mẫu, 2 quả lê tuyết, 50 gram đông nhung, 100 gram đường phèn. Rửa sạch hoa nguyệt quế, bối mẫu ngâm giấm, lê tuyết thái lát, khi đông nhung ngâm mềm, bỏ cuống cứng. Đổ nước vào nồi, cho lê, đông nhung, bối mẫu, đường phèn, đun khoảng 30 phút, cho hoa nguyệt quế vào, đun một lúc, ăn tùy thích.
Món ăn thuốc này có công dụng ích khí, dưỡng âm, chỉ khái, phù hợp với các chứng ho do phổi hư, thở ngắn, ho khan, v.v.
Thạch củ sen sa sâm (《Thực dưỡng và phương thuốc chữa bệnh》)
2 thìa bột củ sen, 5 gram đường phèn, sa sâm, mạch môn, sơn tra mỗi thứ 10 gram, sinh địa 5 gram, trộn cùng nhau đun 30 phút, lấy dịch thuốc 150 ml, để nguội, cho vào ngăn đá dưới cùng, để lắng trong vài giờ, lấy phần dịch trong, đổ vào nồi, thêm đường phèn, đun sôi đến khi đường tan, dùng nước sôi pha bột củ sen thành dạng sền sệt ăn.
Món ăn thuốc này có công dụng dưỡng âm sinh tân, ích vị thanh nhiệt, phù hợp với hội chứng khô, họng khô, khát nước, giảm tiết nước bọt; lưỡi trơn không có lưỡi, lưỡi đỏ khô, đau nứt môi, bong tróc vảy da, v.v.
Những thực phẩm và món ăn thuốc trên nếu thường xuyên ăn vào mùa thu khi khí hậu khô, có thể hiệu quả phòng ngừa tổn thương do tà khô. Tất nhiên, đây chỉ dành cho người bình thường và người thể chất huyết hư, âm hư, nếu chức năng tỳ vị kém, thường xuyên đầy bụng, đại tiện lỏng, thì không nên ăn các thực phẩm và món ăn thuốc trên, vì chúng tính hơi lạnh, nên trước tiên cần điều chỉnh chức năng tỳ vị, khi chức năng tỳ vị phục hồi mới ăn một ít thực phẩm dưỡng âm và món ăn thuốc.
Thứ hai, trong mùa thu ăn uống cần "ít cay, tăng chua".
Ý "ít cay" là phải ăn ít thực phẩm vị cay, vì phổi thuộc kim, thông với thu, khí phổi mạnh vào thu. Ăn ít vị cay để phòng khí phổi quá mạnh; Đông y cho rằng kim khắc mộc, tức là khí phổi quá mạnh có thể tổn thương chức năng gan, vì vậy mùa thu cần "tăng chua", để tăng chức năng gan, chống lại sự xâm nhập quá mức của khí phổi. Theo nguyên tắc này trong dinh dưỡng Đông y, mùa thu nhất định phải ăn ít các thực phẩm vị cay như hành, gừng, tỏi, hẹ, ớt, và ăn nhiều thực phẩm vị chua như trái cây, rau củ. Dưới đây là một số thực phẩm có thể lựa chọn:
Táo: giàu dinh dưỡng, là một trong những loại trái cây tốt nhất, ngoài ăn tươi còn có thể dùng để chế biến thực phẩm. Đông y cho rằng táo có công dụng sinh tân, nhuận phổi, trừ phiền, khai vị, giải rượu, đối với người ăn kém, khí ứ, có thể ép lấy nước uống. Hàm lượng đường trong táo cao, trong 100 gram thịt táo chứa 15 gram đường, trong đó đường fructose chiếm 5,93 gram. Fructose là loại đường tự nhiên ngọt nhất, dễ hấp thu trong cơ thể. Táo chứa 0,2 gram protein, 0,1 gram chất béo, 5 mg vitamin C, còn chứa nhiều phospho hòa tan 9 mg, canxi 11 mg, axit khoảng 0,5%, chủ yếu là axit táo.
Y học hiện đại cho rằng táo còn có tác dụng止tiêu chảy, thông đại tiện. Nguyên nhân là táo chứa tanin, axit hữu cơ, pectin và chất xơ dồi dào. Chất axit có tác dụng se, pectin, chất xơ có tác dụng hấp thụ chất xơ và độc tố, vì vậy có thể止tiêu chảy; đồng thời, axit hữu cơ cũng có tác dụng kích thích ruột già, chất xơ có thể thúc đẩy nhu động ruột, thông đại tiện, điều trị táo bón.
Táo còn có thể phòng ngừa và loại bỏ mệt mỏi, kali trong táo có thể kết hợp với natri dư thừa trong cơ thể và thải ra ngoài. Vì vậy, khi ăn quá nhiều muối, có thể ăn táo để hỗ trợ thải ra. Do đó, ăn táo hoặc uống nước ép táo có lợi cho người cao huyết áp.
Quýt: tính vị ngọt chua, chua, ấm, có công dụng sát trùng, thu liễm, cầm tiêu chảy, chỉ liệt, phù hợp với các chứng tiêu chảy lâu ngày, tiêu chảy lâu, chảy máu, sa trực tràng, khí hư, đau bụng do tích trệ, ghẻ lở, viêm tai giữa, chảy máu do chấn thương, v.v.
Quýt chứa nhiều dưỡng chất, khi chín, hạt chứa 10%-11% đường, chứa axit táo và axit citric, hàm lượng vitamin C cao hơn táo, lê từ một đến hai lần. Loại ngọt như mật, hàm lượng đường cao; loại chua, ăn vào răng cảm thấy mát, chua mà có vị ngọt.
Nếu bị khàn tiếng, họng khô, dùng 1–2 quả tươi, bỏ vỏ, nhai từ từ từng hạt (bỏ hạt), mỗi ngày 2–3 lần; nếu bị tiêu chảy lâu ngày, dùng 1 quả tươi, bỏ vỏ, nghiền nát, thêm một chút muối, đun nước uống, mỗi ngày 3 lần.
Ớt: tính vị ngọt, chua, tươi ăn vị ngọt chua, sinh tân khát, khai vị tiêu hóa, theo ghi chép trong《Lục Xuyên Bản Thảo》: "Ớt bổ dưỡng mạnh, bổ huyết, cường tim, lợi tiểu. Trị đau lưng, đau dạ dày, mệt mỏi, huyết hư tim đập nhanh, v.v."
Y học hiện đại cho rằng quả ớt ngoài chứa nhiều axit nho, đường, còn chứa protein, axit amin, axit citric, axit táo, vitamin C, carotene, riboflavin, canxi, sắt, phốt pho và các chất có lợi cho sức khỏe con người. Nhưng người có tỳ vị hư yếu không nên ăn nhiều, ăn nhiều dễ gây tiêu chảy.
Xoài: tính vị ngọt, chua, mát, vô độc, có công dụng ích vị, giải khát, lợi tiểu, theo ghi chép trong《Thực tính bản thảo》: "Xoài chủ trị kinh mạch phụ nữ không thông, huyết mạch nam giới không hành, v.v."
Xoài có màu sắc, hương vị, mùi thơm đều tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, chứa nhiều vitamin và đường, ngoài ăn tươi còn có thể làm mứt, khô, đóng hộp.
Chanh dây: tính vị ngọt, chua, bình, quả có thể sinh tân khát, theo sách y học cổ xưa: "Chanh dây giải khát, trừ phiền, thanh nhiệt, lợi tiểu, trừ chứng miệng lở ở trẻ nhỏ, chữa chứng bị rắn cắn, v.v." Mùa thu nếu bị ho do phong nhiệt, dùng chanh dây tươi rửa sạch ăn; nếu bị tiểu tiện nóng, rát, dùng 2–3 quả chanh dây tươi, rửa sạch, thái nhỏ, nghiền nát, vắt lấy nước, pha nước ấm uống, mỗi ngày 2 lần; nếu bị đau họng, rửa sạch chanh dây tươi ăn sống, mỗi ngày 2–3 lần, mỗi lần 1–2 quả. Nhưng thực phẩm này ăn nhiều tổn thương dạ dày, đặc biệt người có dạ dày hư hàn thường xuyên nên ăn ít.
Bưởi: tính vị chua, lạnh, vô độc, công dụng lý trung trừ đầy, hóa đờm chỉ khái, kiện vị tiêu hóa, giảm sưng đau, phù hợp với các chứng dạ dày, tiêu hóa kém, ho mạn tính, đờm nhiều, thở khò khè, v.v.
Thịt bưởi có vị ngọt chua, ăn ngon, ngoài ăn tươi còn có thể dùng vỏ làm mứt, nước ép. Bưởi nổi tiếng vì hàm lượng vitamin C cao, mỗi 100 gram có thể đạt 123 mg, hàm lượng vitamin P cũng cao hơn cam, quýt, chanh một chút, vì vậy có lợi cho người mắc bệnh tim mạch và béo phì. Axit hữu cơ trong bưởi chủ yếu là axit citric, và axit citric có tác dụng loại bỏ mệt mỏi trong cơ thể.
Chan: vị chua, ngọt, có công dụng sinh tân, khát, trừ nhiệt, an thai, axit chanh là một loại axit hữu cơ có trong các loại trái cây, được đặt tên theo hàm lượng cao nhất trong chanh. Các loại đồ uống có hương chanh như trà chanh, nước chanh, nước chanh, nước trái cây và một số thực phẩm có hương vị đặc biệt đều cần dựa vào axit chanh để có được mùi vị đặc trưng thơm ngon và chua ngọt.
Vì axit chanh có thể kết hợp với ion canxi thành một hợp chất hòa tan, từ đó làm giảm tác dụng của ion canxi thúc đẩy đông máu, nên người cao huyết áp, nhồi máu cơ tim thường uống đồ uống chanh, có lợi cho cải thiện triệu chứng; ngoài ra, axit chanh còn có tác dụng ngăn ngừa và loại bỏ sắc tố da, do đó trở thành nguyên liệu quan trọng để làm son dưỡng, kem dưỡng da và dầu gội.
Sơn tra: tính vị chua, ngọt, ấm nhẹ, dinh dưỡng cực kỳ phong phú, trong 100 gram thịt sơn tra tươi chứa đến 89 mg vitamin C, đứng thứ ba trong các loại trái cây; đặc biệt hàm lượng canxi, mỗi 100 gram thịt quả chứa 85 mg, cũng đứng đầu, rất phù hợp nhu cầu canxi của trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai. Theo thống kê của Học viện Y học Trung Quốc Bắc Kinh, trong các vị thuốc thường dùng, có đến 49 loại thuốc được bào chế từ sơn tra, 46 loại viên, tán, 3 loại viên nén. Sơn tra được sử dụng rộng rãi vì nó có công dụng tán ứ, tiêu tích, hóa đờm, giải độc, hoạt huyết, tỉnh thần, thanh vị, tỉnh não, phòng暑, tăng khẩu vị, có hiệu quả rõ rệt đối với hơn 10 bệnh như cao huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường, v.v.
Chỉ lấy trái cây làm ví dụ để nói về việc ăn nhiều thực phẩm vị chua vào mùa thu có lợi, đương nhiên còn có nhiều loại rau củ vào mùa thu ăn rất tốt, ở đây không liệt kê chi tiết. Tóm lại, vào mùa thu nên ăn nhiều thực phẩm vị chua một cách hợp lý, như vậy mới có thể tăng chức năng phổi, phòng ngừa khí phổi quá mạnh gây tổn thương gan.
Điều dưỡng ăn uống mùa thu chủ yếu thực hiện hai điểm trên, ngoài ra còn cần phòng "rượu mùa thu làm hại bụng". Vào mùa hè, dưa hấu là món giải nhiệt tốt, người ta gọi nó là "Bạch Hổ Thang" tự nhiên, nhưng sau lễ lập thu, dù là dưa hấu hay dưa hương, dưa cải đều không nên ăn tùy tiện quá nhiều, nếu không sẽ tổn thương dương khí tỳ vị. Các nhà dưỡng sinh Đông y còn khuyến khích mỗi sáng mùa thu ăn cháo, như Lý Đình thời Minh từng nói: "Buổi sáng ăn cháo, loại bỏ cũ, tạo mới, lợi phổi dưỡng vị, sinh tân, khiến một ngày tỉnh táo, bổ ích không nhỏ." Vậy mùa thu nên uống cháo gì tốt hơn?
Cháo đường mía (《Dưỡng lão phong thân thư》)
Dùng đường mía tươi, ép lấy nước khoảng 100–150 ml, pha thêm nước thích hợp, nấu cùng gạo tẻ thành cháo.
Món cháo thuốc này có công dụng thanh nhiệt sinh tân, dưỡng âm nhuận khô, phù hợp với giai đoạn hồi phục bệnh nhiệt, do thiếu dịch thể gây ra tâm phiền, khát nước, ho do khô, đại tiện khô, v.v.
Cháo hoàng tinh (《Ăn uống phân lục》)
Chọn hoàng tinh sạch 10–30 gram, sắc lấy nước đặc, bỏ bã; hoặc dùng hoàng tinh tươi 30–60 gram, rửa sạch, thái thành lát, sắc lấy nước đặc, bỏ bã, nấu cùng gạo tẻ thành cháo, khi cháo chín thêm đường trắng vừa phải.
Món ăn thuốc này có công dụng bổ tỳ vị, nhuận tâm phổi. Phù hợp với tỳ vị hư yếu, mệt mỏi, ăn ít, ho do phổi hư khô, ho khan không đờm, lao phổi ho ra máu, v.v.
Cháo ngọc trúc (《Cháo phổ》)
Trước tiên rửa sạch ngọc trúc tươi, loại bỏ rễ, thái nhỏ, sắc lấy nước đặc, bỏ bã, hoặc dùng ngọc trúc 20 gram sắc nước, bỏ bã, cho gạo tẻ vào, thêm nước thích hợp nấu thành cháo loãng, khi cháo chín cho thêm đường phèn, đun sôi 1–2 lần.
Món cháo thuốc này dưỡng âm nhuận phổi, sinh tân khát, phù hợp với tổn thương âm phổi, ho do khô, ho khan không đờm hoặc không đờm, hoặc sau bệnh nhiệt, khát nước, miệng khô lưỡi khô, sốt âm hư không hạ, v.v., cũng có thể dùng làm phương pháp ăn uống hỗ trợ cho bệnh nhân tim mạch các loại khi chức năng tim suy giảm.
Cháo sa sâm (《Cháo phổ》)
Trước tiên lấy sa sâm 15–30 gram, sắc lấy nước thuốc, bỏ bã, cho gạo tẻ vào nấu thành cháo, khi cháo chín thêm đường phèn nấu loãng; hoặc dùng sa sâm tươi 30–60 gram, rửa sạch, thái lát, sắc lấy nước đặc, nấu cùng gạo tẻ, đường phèn thành cháo ăn.
Món ăn thuốc này có công dụng dưỡng vị, nhuận phổi, hóa đờm, chỉ khái, phù hợp với chứng phổi nhiệt, phổi khô, ho khan không đờm, hoặc phổi khí hư, âm hư vị phổi ho kéo dài không đờm, họng khô, hoặc sau bệnh nhiệt, khát nước do thiếu dịch thể, v.v.
Cháo châu ngọc nhị bảo (《Y học suy trung tham Tây lục》)
Trước tiên nấu nhừ 60 gram ý dĩ sống, sau đó nghiền 60 gram sơn tra sống, cắt 30 gram đường phèn thành miếng nhỏ, nấu thành cháo nhão.
Món cháo thuốc này có công dụng bổ phổi, kiện tỳ, dưỡng vị, phù hợp với chứng âm hư nội nhiệt, ho lâu ngày, tiêu chảy, ăn kém, các chứng do phổi tỳ khí hư, v.v.
Cháo sinh địa (《Ẩm thực chính yếu》)
Cho 25 gram sinh địa hoàng (sản phẩm tươi) cắt nhỏ, dùng nước thích hợp đun sôi khoảng 30 phút, vắt lấy nước, đun lại một lần nữa; hợp hai lần nước thuốc lại, cô đặc còn khoảng 100 ml, để dùng; vo sạch 75 gram gạo tẻ, nấu thành cháo trắng, khi cháo còn nóng trộn đều với nước thuốc sinh địa, khi ăn có thể thêm một chút đường trắng để điều vị.
Món ăn thuốc này có công dụng dưỡng âm ích vị, lương huyết sinh tân, dùng cho các chứng âm hư sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm, ho kéo dài, ho ra máu, ăn kém, gầy yếu, tâm phiền do chứng nhiệt, khát nước, mắt đỏ khi thức dậy, lâu không hết, v.v.
Những món cháo mùa thu kể trên thật sự có lợi cho sức khỏe, đặc biệt là đầu mùa thu, nhiều nơi vẫn còn ẩm – nhiệt giao thoa, khiến tỳ vị hư, sức đề kháng giảm, lúc này ăn đồ ấm, đặc biệt là uống cháo thuốc nóng rất có lợi cho cơ thể. Bởi vì gạo tẻ hoặc gạo nếp – thành phần quan trọng trong món ăn thuốc – đều có công dụng kiện tỳ vị, bổ trung khí rất tốt, người xưa đã khen ngợi rất nhiều. Như《Bảo thảo kinh sơ》 ca ngợi gạo tẻ là "trưởng tử ngũ cốc, người cần dựa vào để sống".《Tùy tức cư ẩm thực phổ》 nói: "Gạo tẻ vị ngọt bình, nên nấu cháo ăn, cháo cơm là món bổ dưỡng tốt nhất trên thế giới. Người nghèo mắc chứng hư, dùng nước gạo đặc thay thuốc nhân sâm. Bệnh nhân, sản phụ, ăn cháo dưỡng sinh rất thích hợp."

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]