Viêm khớp dính sống (AS) thuộc phạm vi "cốt bế" trong y học cổ truyền Trung Hoa, nguyên tắc điều trị y học cổ truyền Trung Hoa là phân biệt chứng trị, trừ phong tán hàn, lợi thấp thông lạc, hoạt huyết hóa ứ, giải độc tiêu thũng, bổ thận kiện cốt, điều hòa toàn thể. Giai đoạn đầu AS chủ yếu là chứng thực, chủ yếu do thấp nhiệt phong hàn, huyết ứ xen kẽ, giai đoạn muộn chủ yếu là chứng hư thực xen kẽ, chứng hư chủ yếu, thận hư là bản chất, điều trị nên bổ thận dưỡng can, đồng thời điều trị thanh nhiệt, hoạt huyết, trừ hàn, giảm đau. 1. Phân biệt chứng trị, các chứng thường gặp có thể chia thành năm loại: ① Hàn thấp bế tắc, đau vùng thắt lưng – xương sống, lưng cứng, cúi ngửa khó khăn, đau lưng, mỏi gối, nặng nề mệt mỏi, sợ lạnh, thích ấm. Phương thuốc: qiang huo, du huo, gui zhi, qin jiao, hai feng teng, chuan xiong, xi xin, v.v. ② Thấp nhiệt bế tắc, sưng đau khớp chi thể, nóng đỏ đau, lưng cứng, vận động khó khăn, chi thể nặng nề. Phương thuốc: huang bo, cong zhu, yi yi ren, fang ji, niu xi, feng fang, hu zhang, bai hua she she cao, sheng shi gao, zhi mu, v.v. ③ Huyết ứ bế tắc, đau nhói vùng thắt lưng – xương sống (đêm càng nặng), lưng cứng, cúi ngửa và xoay chuyển khó khăn, khớp biến dạng. Phương thuốc: dang gui, dan shen, chuan xiong, tao ren, hong hua, ru mo, v.v. địa long, qin jiao, qiang huo, v.v. ④ Can thận âm hư, đau vùng thắt lưng – xương sống, cơ co rút, đau lưng mỏi gối, cử động khó khăn, lạnh cơ thể, mệt mỏi tinh thần, có thể kèm chóng mặt, tim đập nhanh, lo lắng, mất ngủ. Phương thuốc: shu di, shan zhu yu, shan yao, gui ban, zhi mu, du zhong, niu xi, dang gui, bai shao, v.v. ⑤ Thận hư đốc không, đau lạnh vùng thắt lưng – xương sống, lưng, hông, cổ, khớp cứng, cử động khó khăn, kèm đau lưng mỏi gối, sợ lạnh tay chân lạnh hoặc đi ngoài phân lỏng. Phương thuốc: du zhong, ji sheng, shu di, rou gui, qian nian jian, bu gu zhi, du huo, niu xi, qin jiao, xi xin, v.v. 2. Phương thuốc chuyên biệt ① Ô đầu Quế Chi Thang, gồm ô đầu 4,5 gam, ô quế chi, bạch thược, sinh khương mỗi thứ 9 gam, chích cam thảo 6 gam, đại táo 7 quả, mỗi ngày 1 thang, sắc uống. Có thể gia giảm ô thảo bạc, uy linh tiên, phong kỷ, v.v. Đài Triều Thọ báo cáo điều trị 89 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng thể 100%, tỷ lệ khỏi sớm 76,4%. ② Kháng khớp thang, gồm quế chi, kyô hoàng, xuyên khung, thiên niên kiên, toàn xà, địa long mỗi thứ 9 gam, cát căn, hoàng kỳ, bạch thược, đương quy, cẩu ký, xuyên đoạn, bổ cốt chi, độc hoạt, tàng ký sinh, lão quán thảo, đảng sâm, uy linh tiên mỗi thứ 15 gam, hoàng kỳ 20 gam, cam thảo 6 gam, sắc uống mỗi ngày 1 thang. Cao Phi báo cáo điều trị 30 ca, tỷ lệ hiệu quả 98%. ③ Lưu Lý Hồng dùng Cốt Bế Thang, Dương Ái Quốc dùng Thận Bế Thang điều trị AS 47 ca và 30 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng thể lần lượt là 98,7% và 93%. ④ Hiệu quả cao thuốc chống thấp khớp sắc, trọng dụng tinh nhân 60–200 gam, phối hợp chế phụ tử, hoàng kỳ, thi hiền thảo, chế ô đầu, phòng phong, cường hoạt, ích dĩ nhân, xuyên khung, cam thảo, phòng kỷ, bạch truật, bạch thược, dâm dương hoắc, bá ký thiên, sắc uống. Cao Gia Tuấn điều trị 38 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng thể 98,6%. Tinh nhân là dược liệu có độc, cần dùng theo hướng dẫn bác sĩ, tuyệt đối không tự ý dùng. 3. Ngoại trị bằng thuốc ngoài da, thuốc ngâm rửa là phổ biến nhất, ngoại trị kích thích thông kinh hoạt lạc, điều hòa khí huyết, thuốc qua da hấp thu có thể thông kinh xuyên lạc phát huy tác dụng. Cao Gia Tuấn sử dụng miếng dán từ trường "Bách Thư Ninh" và "Cốt Đau Dán", phối hợp thuốc uống, điều trị nội ngoại kết hợp, có thể đạt hiệu quả như nhau, vừa trị bản, vừa trị nguyên nhân. Điều trị AS tổng cộng 57 ca quan sát, hiệu quả giảm đau, sưng và cứng khớp buổi sáng rất tốt. 4. Điều trị tổng hợp kết hợp y học cổ truyền Trung Hoa và y học hiện đại, điều trị đơn thuần bằng thuốc Tây tuy hiệu quả nhanh, nhưng ngừng thuốc dễ tái phát, hiệu quả khó duy trì; điều trị đơn thuần bằng thuốc Đông y tuy hiệu quả dài hạn tốt, tái phát thấp, nhưng khởi phát chậm. Điều trị kết hợp Đông – Tây y có thể tận dụng ưu điểm, khắc phục nhược điểm, đạt hiệu quả tốt. Khoa Phong thấp, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Hoa Thiên Tân, ngoài dùng thuốc Đông – Tây y, tùy tình trạng bổ sung châm cứu, bấm huyệt, tắm nước nóng, ngâm thuốc, đắp nóng, xông hơi, chiếu tia hồng ngoại, liệu pháp từ trường, hiệu quả đặc biệt tốt. Khoa Phong thấp, Bệnh viện Y học Y khoa Thiên Tân, sử dụng Thống Bế Thang kết hợp Methotrexate (MTX) hoặc Qingtengjian, Chloroquine và polysaccharide Tripterygium, tùy tình trạng bổ sung liệu pháp ion thuốc Đông y và châm cứu hoặc tiêm vào huyệt hoặc khớp, điều trị các giai đoạn AS 35 ca, đa số đạt hiệu quả tốt. (Tác giả bài viết là phó giáo sư, bác sĩ chuyên khoa phong thấp, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung Hoa Thiên Tân)
|