Phân biệt chứng trị là đặc điểm nổi bật của y học cổ truyền Trung Hoa so với y học hiện đại và các y học truyền thống khác, "chứng" là nền tảng của phân biệt chứng trị trong y học cổ truyền Trung Hoa, cũng là tinh hoa của y học cổ truyền Trung Hoa. Để nghiên cứu hiện đại hóa y học cổ truyền Trung Hoa, tất yếu phải chạm đến nghiên cứu bản chất "chứng". Bản chất của chứng trạng y học cổ truyền Trung Hoa là gì? Làm thế nào để khách quan hóa chứng trạng y học cổ truyền Trung Hoa? Học giả Thẩm Tự Ấm tuân thủ quy luật phát triển nội tại của y học cổ truyền Trung Hoa, nghiên cứu chứng dương thận hư gần nửa thế kỷ, cuối cùng lần đầu tiên trên thế giới chứng minh được chứng dương thận hư có cơ sở vật chất đặc thù, xác định trung tâm điều tiết chính ở hạ đới, đóng góp quan trọng vào sự phát triển hiện đại hóa y học cổ truyền Trung Hoa. Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của ông có lẽ có thể mang lại một vài gợi ý cho người khác. Học giả Thẩm Tự Ấm tốt nghiệp Khoa Y học Lâm sàng Trường Y khoa Thượng Hải lần thứ nhất năm 1952, năm 1955 học hỏi hệ thống các tác phẩm kinh điển y học cổ truyền Trung Hoa và thực hành lâm sàng dưới sự hướng dẫn của giáo sư y học cổ truyền nổi tiếng Thượng Hải, Khương Xuân Hoa. Kinh nghiệm "học Tây y để hiểu Đông y" khiến ông kết hợp tư duy nghiên cứu của y học cổ truyền Trung Hoa và y học hiện đại. Ông cho rằng, do phương pháp phân biệt chứng trong lịch sử y học cổ truyền Trung Hoa khác nhau, nên hiểu về "chứng" cũng khác nhau, có thể nói là nhìn từ các góc độ khác nhau để nhận thức "chứng". Phân biệt chứng ngũ tạng bắt nguồn từ "Hoàng Đế Nội Kinh", là theo nguyên tắc "tạng (ngũ tạng) ở bên trong, hình dáng hiện ra bên ngoài", suy luận "chứng" từ biểu hiện bên ngoài của bệnh nhân. "Hoàng Đế Nội Kinh" ra đời trong thời kỳ thịnh hành học thuyết âm dương ngũ hành của Chu – Tần, nên phân biệt chứng ngũ tạng mang đậm đặc điểm triết học. Sau đó, Trương Trọng Cảnh đã kết hợp triết lý phân biệt chứng trị một cách cụ thể vào thực tiễn lâm sàng, "tổng hợp nhiều phương thuốc", lấy hiệu quả làm mục tiêu, mỗi phương thuốc đều có chứng tương ứng, chỉ cần có chứng ấy thì dùng phương thuốc ấy, thường gọi là "phương chứng". Phân biệt chứng dựa trên phương thuốc cũng thuộc phạm vi phân biệt chứng, do đó gọi là phân biệt chứng theo phương thuốc. Học giả Thẩm Tự Ấm đã dựa trên hai tư duy phân biệt chứng này, chọn chứng dương thận hư làm điểm khởi đầu, triển khai nghiên cứu từ bản chất thận đến bản chất chứng. I. Giai đoạn nghiên cứu phân biệt chứng ngũ tạng Thập niên 1950, học giả Thẩm Tự Ấm bắt đầu nghiên cứu "chứng" từ tư duy phân biệt chứng ngũ tạng, nghiên cứu "chứng" thông qua việc "biểu hiện bên ngoài" để tìm ra "bên trong" của ngũ tạng, tức là thiết lập tiêu chuẩn phân biệt chứng thống nhất, lựa chọn bệnh nhân điển hình có biểu hiện bên ngoài phù hợp với chứng dương thận hư mà không có chứng khác xen lẫn, sàng lọc các chỉ số đặc hiệu phản ánh chức năng nội tạng. Kết quả dù không tìm thấy chỉ số đặc hiệu phản ánh chứng dương thận hư (còn gọi là chỉ số vàng), nhưng phát hiện chứng dương thận hư có rối loạn chức năng ở nhiều cấp độ (giai đoạn) trục hạ đới – yên – vỏ thượng thận, thuộc dạng thay đổi tiềm ẩn, điều này cho thấy "chứng" có cơ sở vật chất. Vậy nếu "chứng" có cơ sở vật chất, về phương diện nghiên cứu khoa học, thì có thể thực hiện nghiên cứu định lượng và định tính. Cuối thập niên 1970, học giả Thẩm Tự Ấm tiếp tục tăng cường nghiên cứu chức năng trục giáp trạng và trục tính dục, đồng thời thiết lập nhóm đối chứng bệnh khác chứng khác để tránh ảnh hưởng của bệnh đến chỉ số, đồng thời so sánh bệnh nhân dương thận hư với người già trên 65 tuổi. Kết quả cho thấy chứng dương thận hư có rối loạn chức năng đa đích (3 trục đều bị ảnh hưởng), quan sát song song hai trục không thấy bằng chứng ảnh hưởng tương hỗ giữa các trục, từ đó suy luận theo tư duy phân biệt chứng ngũ tạng, giai đoạn phát bệnh chính của chứng dương thận hư có thể là rối loạn chức năng điều tiết ở hạ đới (hoặc trung khu cao hơn). Vì nhóm người già có biểu hiện bất thường trên hai trục rất giống nhóm dương thận hư, nên chứng dương thận hư biểu hiện bên ngoài cũng có nghĩa là có mức độ suy giảm chức năng chưa già ở hạ đới – yên và một trục đích nào đó; còn sự sinh trưởng, phát triển, lão hóa của con người do sự đầy đủ hay suy giảm của tinh thận, khí thận quyết định, lão hóa cũng chính là thận hư sinh lý. Từ giai đoạn nghiên cứu này, chúng ta có thể cảm nhận được: ① Nghiên cứu "chứng" trong y học cổ truyền Trung Hoa không thể một cách mù quáng tìm kiếm chỉ số đặc hiệu đơn nhất, nếu "chứng" tìm được chỉ số đặc hiệu đơn nhất để thể hiện, thì chứng đó đã phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh, đã bước vào phạm vi "bệnh". ② Chứng là một trạng thái chức năng tổng hợp, là động thái, có thể phát triển, có thể chuyển hóa, cơ thể có khả năng điều tiết mạnh mẽ, liên tục thông qua cơ chế phản hồi để đạt trạng thái ổn định nội tại, biểu hiện bệnh lý là rối loạn khả năng điều tiết kiểm soát. ③ Nghiên cứu theo tư duy phân biệt chứng ngũ tạng tuy suy luận đến nơi phát sinh bệnh lý, nhưng vẫn chưa tìm được thực thể cụ thể tương ứng với chứng và trung tâm điều tiết. II. Giai đoạn nghiên cứu phân biệt chứng theo phương thuốc Y học cổ truyền Trung Hoa truyền thống luôn chú trọng vào việc đánh giá đúng sai của phân biệt chứng dựa trên mối quan hệ hiệu quả chứng – phương, "có chứng nào dùng phương ấy" của Trương Trọng Cảnh cho thấy sự tồn tại của chứng có thể được xác nhận qua thuốc. Phân biệt chứng ngũ tạng phải bắt đầu từ biểu hiện chứng trạng bên ngoài của cơ thể, do đó đối tượng nghiên cứu đều là con người. Tuy nhiên, do hạn chế trong lấy mẫu nghiên cứu trên người, nên nghiên cứu giai đoạn đầu cho rằng nơi phát sinh bệnh lý của chứng dương thận hư ở hạ đới chỉ là suy luận mà thôi. Để kiểm chứng trung tâm điều tiết có nằm ở hạ đới hay không, giai đoạn thuốc kiểm chứng thứ hai cần lấy mẫu từ hạ đới, điều này buộc phải sử dụng mô hình động vật. Từ giữa thập niên 1980, học giả Thẩm Tự Ấm bắt đầu nghiên cứu từ tư duy phân biệt chứng theo phương thuốc, lựa chọn chuột già có sinh lý thận hư và mô hình gây rối loạn trục hạ đới – yên – vỏ thượng thận bằng hormone glucocorticoid ngoại sinh (cortisone) để mô phỏng chứng dương thận hư, nhằm kiểm chứng trung tâm điều tiết của chứng dương thận hư có nằm ở hạ đới hay không. Vì giai đoạn thuốc kiểm chứng này lấy mô hình động vật làm đối tượng, nguyên nhân rõ ràng, điều kiện kiểm soát được, có thể lấy mẫu tùy ý, đồng thời có thể so sánh nghiên cứu bằng các phương thuốc cổ điển khác nhau, điều này tạo điều kiện thuận lợi cực kỳ để làm rõ vị trí bệnh, tìm ra trung tâm điều tiết của thuốc tác động lên chứng dương thận hư. Năm 1986, học giả Thẩm Tự Ấm quan sát thấy thuốc bổ thận kéo dài tuổi thọ có tác dụng rõ rệt làm tăng testosterone huyết thanh ở người già, trong khi dùng Bổ khí Tứ quân thang thì không có tác dụng. Do đó, ông chia 24 tháng tuổi chuột già thành nhóm bổ thận (dùng thuốc bổ thận kéo dài tuổi thọ) và nhóm đối chứng, so sánh với chuột trưởng thành 4 tháng tuổi, lấy mẫu đặc biệt từ hạ đới. Kết quả cho thấy độ gắn kết thụ thể dihydrotestosterone ở hạ đới của chuột già thấp hơn rõ rệt so với chuột trưởng thành. Thuốc bổ thận có thể cải thiện hiệu quả độ gắn kết thụ thể dihydrotestosterone ở hạ đới của chuột già, chứng tỏ thuốc bổ thận có thể tác động trực tiếp vào hạ đới, trở thành một trong những căn cứ nghiên cứu định vị chứng dương thận hư. Năm 1990, trong nghiên cứu so sánh kiểm chứng thuốc bổ thận và thuốc kiện tỳ, học giả Thẩm Tự Ấm chỉ ra rằng thuốc bổ thận có thể cải thiện chức năng lão hóa của tế bào thần kinh catecholamine ở hạ đới, trong khi thuốc kiện tỳ thì không rõ rệt, là căn cứ thứ hai cho nghiên cứu định vị chứng dương thận hư. Năm 1995, học giả Thẩm Tự Ấm quan sát tác dụng điều tiết của Uy quy ẩm (thuốc ấm bổ thận) và hợp phương Mệnh môn tự chế trên mô hình chuột cortisone (mô hình ức chế trục hạ đới – yên – vỏ thượng thận – tuyến ức HPAT, thực chất cũng là mô hình ức chế mạng lưới thần kinh nội tiết miễn dịch NEI), kết quả cho thấy cả hai phương thuốc đều có thể cải thiện hiệu quả tình trạng rối loạn hàm lượng chất dẫn truyền đơn amin ở hạ đới, hình thái và chức năng trục HPAT, cũng như tình trạng ức chế toàn diện chức năng miễn dịch tế bào, chứng tỏ chứng dương thận hư có liên hệ nội tại với mạng lưới NEI, ấm bổ thận là phương pháp hiệu quả để điều tiết hạ đới, mạng lưới NEI, trục HPAT, trở thành căn cứ thứ ba cho nghiên cứu định vị chứng dương thận hư. Năm 1996, học giả Thẩm Tự Ấm chọn alkaloid aconit, thành phần chính của thuốc phụ tử, quan sát ảnh hưởng của nó đến hình thái và chức năng CRH ở hạ đới của chuột bình thường, kết quả chứng minh thêm rằng thuốc ấm bổ thận có tác dụng điều tiết đặc hiệu đối với hạ đới, trở thành căn cứ thứ tư cho việc định vị chứng dương thận hư ở hạ đới. Năm 1997, sử dụng phương pháp định lượng huỳnh quang RT-PCR, học giả Thẩm Tự Ấm so sánh ảnh hưởng của ba loại phương thuốc bổ thận, kiện tỳ, hoạt huyết đến biểu hiện mRNA CRF ở hạ đới và trục HPAT trên mô hình chuột cortisone, kết quả cho thấy thuốc ấm bổ thận có thể trực tiếp tăng mức biểu hiện mRNA CRF, từ đó điều tiết trạng thái ức chế trục HPAT, trở thành căn cứ thứ năm cho việc định vị chứng dương thận hư ở hạ đới. Đến đây, nhiều bằng chứng cho thấy trung tâm điều tiết của chứng dương thận hư định vị ở hạ đới, tất nhiên hạ đới còn chịu điều tiết từ trung khu cao hơn và các trung khu khác, đồng thời thuốc bổ thận còn có tác dụng điều tiết rộng rãi lên các cơ quan ngoại biên. Học giả Thẩm Tự Ấm bắt đầu từ phân biệt chứng ngũ tạng, suy luận từ rối loạn chức năng ba trục mà chứng dương thận hư phát sinh ở hạ đới; bắt đầu từ phân biệt chứng theo phương thuốc, cho rằng chứng dương thận hư bao hàm mạng lưới NEI, trung tâm điều tiết ở hạ đới. Vì vậy, ta có thể tưởng tượng rằng, nếu nghiên cứu bản chất chứng lấy chứng dương thận hư làm mô hình, liệu có thể suy rộng sang tư duy nghiên cứu cho các chứng khác: Chứng là một trạng thái chức năng tổng hợp, có mạng lưới chức năng cụ thể và trung tâm điều tiết. Vì thuốc bổ thận có thể đặc hiệu làm tăng biểu hiện gen chức năng quan trọng ở hạ đới – gen CRF, từ đó phát huy vai trò điều tiết trung tâm của hạ đới để điều tiết mạng lưới chức năng NEI. Khoa học hiện đại dù tiên phong phát triển học thuyết mạng lưới NEI, nhưng vẫn thiếu phương tiện điều tiết cân bằng; dù có liệu pháp điều trị gen độc đáo, chuyên biệt cho bệnh gen đơn (gen bệnh hoặc gen biến dị), nhưng vẫn thiếu phương tiện điều tiết toàn diện cho gen chức năng trong bệnh đa gen. Từ nghiên cứu chứng dương thận hư của học giả Thẩm Tự Ấm, chúng ta có thể khẳng định và tự hào rằng, y học cổ truyền Trung Hoa có thể bù đắp thiếu sót của y học hiện đại; ưu thế trong điều tiết mạng lưới chức năng và gen chức năng sẽ là đặc điểm lớn nhất trong nghiên cứu và ứng dụng tương lai của y học cổ truyền Trung Hoa.
|