BS Hà Lập Hoa, Khoa Y học Lâm sàng, Trường Đại học Khoa học Hà Nam, trong quá trình lâm sàng đã áp dụng phương pháp kết hợp Đông - Tây y học điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, đạt hiệu quả tốt. Bài báo đăng trên Tạp chí Y học cổ truyền Thiểm Tây, số 2 năm 2004, có đề cập và kèm theo một ca bệnh điển hình. 181 ca bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành nhóm điều trị (92 ca) và nhóm đối chứng (89 ca). Nhóm điều trị dùng bài thuốc “Huyết Phủ Trục Ứ Thang” làm cơ bản, gia giảm tùy chứng: bài thuốc gồm đương quy, xích thược, xuyên khung, sinh địa, sài hồ, ngưu tất, tri khoản, đào nhân, hồng hoa, cam thảo. Trong quá trình điều trị, tùy theo chứng trạng gia giảm: nếu mạch chậm, thêm nhân sâm, mạch môn, cam thảo chế; nếu đàm trọc tắc nghẽn, thêm qua lâu, hạch bạch; nếu tâm dương hư, thêm quế chi, phụ tử; nếu tâm khí hư, thêm hoàng kỳ; nếu tăng huyết áp, thêm hạ khô thảo, câu kỷ tử, cúc hoa; nếu tăng lipid máu, thêm sơn tra, đan sâm. Mỗi ngày 1 thang, sắc uống, mỗi 15 ngày là 1 liệu trình, điều trị 2–4 liệu trình để quan sát hiệu quả. Nhóm đối chứng và nhóm điều trị đều dùng thuốc tây: Xiao Xin Tong 10mg, ngày 3 lần, Pan Sheng Ding 25mg, ngày 3 lần, Atorvastatin 12,5mg, ngày 2 lần (cấm dùng ở trường hợp AVB độ III), Aspirin tan chậm 75mg, uống mỗi tối trước khi ngủ (người giảm tiểu cầu hoặc có xu hướng xuất huyết thì không dùng). Mỗi 15 ngày là 1 liệu trình, điều trị 2–4 liệu trình để quan sát hiệu quả. Sau điều trị, trong nhóm điều trị 92 ca, có 36 ca khỏi hẳn, 51 ca có hiệu quả, 5 ca không hiệu quả, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng là 94,6%; nhóm đối chứng 89 ca, có 21 ca khỏi hẳn, 43 ca có hiệu quả, 25 ca không hiệu quả, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng là 71,9%. So sánh hiệu quả giữa hai nhóm có sự khác biệt rõ rệt. Bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành thuộc phạm vi “thư bế” trong y học cổ truyền, chủ yếu do chính khí suy yếu, đàm trọc, huyết ứ, khí trệ, hàn đình dẫn đến tắc nghẽn mạch tim, gây ra các triệu chứng. BS Hà Lập Hoa trong quá trình lâm sàng dựa theo lý luận “đau thì không thông, không thông thì đau” của y học cổ truyền, dùng phương pháp hoạt huyết khu ứ để điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, đạt hiệu quả tốt. Trong quá trình điều trị, tùy theo tình trạng bệnh có thể phối hợp thêm các phương pháp như lý khí, hóa đàm, ôn thông. Phương pháp chính là “Huyết Phủ Trục Ứ Thang”, một phương thuốc trong tác phẩm “Y Lâm Cải Sai” của danh y Vương Thanh Nhân thời Thanh. Trong đó, đương quy, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa, xích thược hoạt huyết khu ứ, thông mạch; sài hồ, cam thảo phối hợp với tri khoản, ngưu tất, một lên một xuống, điều hòa khí cơ, hành khí hoạt huyết; sinh địa trừ huyết ứ, dưỡng âm nhuận táo. Các vị thuốc trong bài phối hợp với nhau, cùng nhau tạo hiệu quả trừ huyết ứ, thông mạch, hành khí chỉ đau. Kết quả quan sát lâm sàng trên cũng cho thấy, dùng “Huyết Phủ Trục Ứ Thang” làm cơ bản, gia giảm tùy chứng, kết hợp dùng thuốc tây, hiệu quả điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành là rất rõ rệt. Điều trị nhịp tim nhanh thất tái phát bằng Đông - Tây y học hiệu quả Nhịp tim nhanh thất tái phát là một biểu hiện lâm sàng phổ biến trong các bệnh tim mạch. Tạp chí Y học cổ truyền Hồ Bắc, số 3 năm 2004, báo cáo lâm sàng của các bác sĩ Trần Thắng Bằng, Trần Băng Băng và đồng nghiệp tại Học viện Quân y Bạch Cầu Ân, Thành phố Thạch Gia Trang, cho thấy điều trị nhịp tim nhanh thất tái phát bằng phương pháp kết hợp Đông - Tây y học đạt hiệu quả tốt. Họ chọn bài thuốc “Sinh Mạch Tán” gia giảm kết hợp với thuốc tây “Mạn Tâm Luật” điều trị 27 ca bệnh nhân nhịp tim nhanh thất tái phát, và so sánh với nhóm dùng đơn thuần thuốc tây “Mạn Tâm Luật”. Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán nhịp tim nhanh thất tái phát trong “Lâm sàng điện tâm đồ” và “Nội khoa”, và tiêu chuẩn chẩn đoán “Tâm Kị” trong “Y học nội khoa cổ truyền”: (1) Điện tâm đồ cho thấy nhịp tim nhanh thất, điện tâm đồ dài hạn cho thấy số lần nhịp tim nhanh thất ≥ 5 lần/phút, hoặc ≥ 30 lần/giờ; (2) Có thể thấy mạch đứt quãng v.v. 51 ca bệnh nhân nhịp tim nhanh thất được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm điều trị 27 ca, trong đó 15 nam, 12 nữ; tuổi trung bình 64,5; tần suất phát nhịp cao nhất là 14 lần/phút, thấp nhất là 5 lần/phút. Nhóm đối chứng 24 ca, trong đó 14 nam, 10 nữ; tuổi trung bình 66,2; tần suất phát nhịp cao nhất là 12 lần/phút, thấp nhất là 6 lần/phút. Phương pháp điều trị: nhóm đối chứng uống thuốc tây “Mạn Tâm Luật”, 0,2g/lần, 3 lần/ngày. Nếu không hiệu quả, tăng lên 0,4g/lần, 3 lần/ngày. Khi tình trạng cải thiện có thể giảm xuống 0,1g/lần, 3 lần/ngày. Nhóm điều trị, trên nền điều trị nhóm đối chứng, dùng bài thuốc “Sinh Mạch Tán” làm cơ bản, gia giảm tùy chứng: nếu âm tim hư, thêm Nam Sa Sâm, Bắc Sa Sâm, sinh địa, toàn qua lâu, đương quy, đan sâm, sơn tra chiêu, nấu; nếu khí tim hư, thêm hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo chế, đan sâm, khổ sâm; nếu dương tim hư, thêm hồng sâm, đảng sâm, quế chi, cam thảo chế, phúc linh, nung vẹt, đông trùng hạ thảo; nếu thủy ẩm xâm tâm, phối hợp với “Lăng Quế Thuật Cam Thang” gia giảm; nếu huyết ứ tâm, phối hợp với “Đào Nhân Hồng Hoa Thang” gia giảm; nếu đàm hỏa nhiễu tâm, phối hợp với “Hoàng Liên Ôn Đởm Thang” điều chỉnh. Mỗi ngày 1 thang, sắc hai lần, chia 3 lần uống sau bữa ăn nửa tiếng. Nếu đau ngực, thêm hạch bạch, toàn qua lâu; nếu sợ lạnh, tay chân lạnh, thêm phụ tử chín, quế chi, sơn dư nhục; nếu kém ăn, thêm bạch truật sao, phúc linh, thần khúc; nếu chóng mặt, thêm đương quy, xuyên khung; nếu mất ngủ, thêm dạ giao đằng, sơn tra chiêu. Hai nhóm đều dùng 1 tuần làm 1 liệu trình, trong quá trình điều trị đều ngừng dùng các thuốc chống loạn nhịp khác. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả: Hiệu quả rõ rệt: triệu chứng lâm sàng biến mất hoặc cải thiện rõ rệt, điện tâm đồ dài hạn cho thấy nhịp tim nhanh thất cơ bản biến mất hoặc giảm hơn 50% so với trước, tần suất < 5 lần/phút hoặc < 30 lần/giờ; Hiệu quả: triệu chứng lâm sàng cải thiện và/hoặc tần suất nhịp tim nhanh thất giảm; Không hiệu quả: triệu chứng lâm sàng và điện tâm đồ không cải thiện. Tăng nặng: triệu chứng lâm sàng nặng hơn so với trước điều trị và/hoặc số lần nhịp tim nhanh thất tăng. Kết quả cho thấy: nhóm điều trị 27 ca, hiệu quả rõ rệt 9 ca, hiệu quả 15 ca, không hiệu quả 3 ca, tăng nặng 0 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng là 88,9%; nhóm đối chứng 24 ca, hiệu quả rõ rệt 4 ca, hiệu quả 11 ca, không hiệu quả 6 ca, tăng nặng 3 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng là 62,5%. So sánh với nhóm đối chứng, có sự khác biệt rõ rệt, P < 0,05. Các bác sĩ Trần Thắng Bằng, Trần Băng Băng v.v. cho rằng: nhịp tim nhanh thất tái phát thuộc phạm vi “Kinh Kị”, “Trưng Trung” trong y học cổ truyền, chủ yếu do khí huyết âm dương suy kiệt, tâm thần không được nuôi dưỡng hoặc do tình cảm nội tâm tổn thương, tâm thần bị xao động. Bệnh vị ở tim, nhưng liên quan đến chức năng suy giảm của các tạng tỳ, thận, can, phế. Quan sát lâm sàng cho thấy nhịp tim nhanh thất tái phát chủ yếu là chứng hư, thường biểu hiện suy giảm chức năng tạng phủ, liên quan đến bệnh tái phát, thể chất yếu, chính khí hư. Việc điều trị nhịp tim nhanh thất tái phát bằng phương pháp kết hợp Đông - Tây y học đạt hiệu quả lâm sàng tốt. Điều trị đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành bằng Đông - Tây y học có ưu thế Đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành là một hội chứng lâm sàng do thiếu máu và thiếu oxy tạm thời ở cơ tim do cung cấp máu động mạch vành không đủ. Tạp chí Y học cổ truyền Hồ Bắc, số 3 năm 2004, báo cáo kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ Lý Nghiêm Phương, Vương Tịch Tú, Bệnh viện Nhân dân Chi Giang, tỉnh Hồ Bắc, về điều trị đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành bằng phương pháp kết hợp Đông - Tây y học. Tiêu chuẩn chẩn đoán: các triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng và kiểm tra điện tâm đồ của bệnh nhân đều phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành trong “Nội khoa thực dụng” phiên bản thứ 11. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: nhóm điều trị 63 ca, trong đó 51 nam, 12 nữ; tuổi từ 40–70, trung bình 61 tuổi; 31 ca đau thắt ngực ổn định, 32 ca đau thắt ngực không ổn định. Nhóm đối chứng 60 ca, trong đó 47 nam, 13 nữ; tuổi từ 41–72, trung bình 62 tuổi; 30 ca đau thắt ngực ổn định, 30 ca đau thắt ngực không ổn định. So sánh giữa hai nhóm về giới tính, tuổi tác, tình trạng bệnh, không có sự khác biệt rõ rệt (P > 0,05), có tính so sánh. Phương pháp điều trị: nhóm đối chứng: trong giai đoạn cấp tính, dùng nitroglycerin 0,3–0,6mg, ngậm dưới lưỡi. Giai đoạn ổn định dùng isosorbide dinitrate 5–10mg, 3 lần/ngày. Đồng thời dùng oxy, chống đông và thuốc ức chế beta. Giai đoạn cấp tính thực hiện giám sát điện tâm đồ 24 giờ. Nhóm điều trị: trên nền điều trị nhóm đối chứng, dùng bài thuốc “Ôn Đởm Thang” gia giảm: bán hạ, bạch linh, tri khoản, trần bì mỗi vị 15g, đảng sâm 30g, trúc nhũ, đan sâm mỗi vị 15g, cam thảo 6g. Gia giảm: nếu khí hư rõ rệt, thêm hoàng kỳ; nếu đau tim rõ rệt, thêm thất tiếu tán hoặc bột Thiên Thất; nếu tỳ khí hư, phối hợp với “Tứ Quân Tử Thang”; nếu âm hư, phối hợp với “Sinh Mạch Tán”; nếu tăng huyết áp, thêm thảo quyết minh, trân châu mẫu; nếu tăng lipid máu, thêm sơn tra, thục địa, mạch nha; nếu thận hư, thêm dâm dương hoắc, tang ký sinh. Mỗi ngày 1 thang, sắc uống. Hai nhóm đều dùng 2 tuần làm 1 liệu trình, sau 2 liệu trình tiến hành đánh giá hiệu quả. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả: Hiệu quả rõ rệt: triệu chứng đau thắt ngực và các triệu chứng đi kèm cơ bản biến mất, hầu như không cần dùng nitroglycerin, điện tâm đồ ST đoạn hạ xuống sau điều trị tăng lên trên 0,05mv; Hiệu quả: số lần đau thắt ngực và lượng nitroglycerin dùng giảm hơn một nửa, triệu chứng đi kèm và điện tâm đồ cải thiện so với trước; Không hiệu quả: chưa đạt tiêu chuẩn hiệu quả. Kết quả cho thấy: nhóm điều trị 63 ca, hiệu quả rõ rệt 31 ca, hiệu quả 29 ca, không hiệu quả 3 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng 95,2%. Nhóm đối chứng 60 ca, hiệu quả rõ rệt 31 ca, hiệu quả 31 ca, không hiệu quả 10 ca, tỷ lệ hiệu quả tổng cộng 83,3%. Các bác sĩ Lý Nghiêm Phương, Vương Tịch Tú cho rằng: đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành thuộc phạm vi “thư bế”, “tâm thống” trong y học cổ truyền, đặc điểm bệnh cơ là “bản hư biểu thực”. Khí tim hư và âm tim hư là bản, đàm, huyết ứ kết hợp là biểu. Khí hư, âm hư, đàm trọc, huyết ứ tạo thành bốn yếu tố chính trong cơ chế bệnh lý của thư bế. Trong bài thuốc Ôn Đởm Thang gia giảm, đảng sâm bổ khí, phục chính; đan sâm hoạt huyết thông ứ; Ôn Đởm Thang trừ đàm lợi khí, điều hòa khí cơ. Trong bài thuốc thay thế chi thực bằng chi khoản, có tác dụng rộng trung, hạ khí, tránh được nhược điểm của chi thực là tiêu hao khí, phá kết quá mức. Các vị thuốc phối hợp với nhau, cùng nhau tạo hiệu quả bổ khí phục chính, hóa đàm thông ứ. Bài thuốc có tính chất bình hòa, dùng lâu không gây tác dụng phụ. Linh hoạt gia giảm tùy chứng, phối hợp dùng để điều trị đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, hiệu quả hài lòng.
|