Bệnh nhân ung thư ác tính giai đoạn cuối thường có chứng khí hư huyết ứ. Viện Nghiên cứu Phòng chống Ung thư Bắc Kinh đã nghiên cứu hiệu quả của phương pháp bổ khí hoạt huyết kết hợp hóa trị trong điều trị ung thư ác tính giai đoạn cuối, thời gian sống có khối u và chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu cho rằng, đối với bệnh nhân ung thư ác tính giai đoạn cuối không còn cơ hội căn trị, việc kết hợp điều trị bằng thuốc cổ truyền trong quá trình hóa trị, đặc biệt là điều trị theo chứng trạng, là vô cùng quan trọng. Các nhà nghiên cứu đã chọn 61 ca bệnh nhân ung thư phổi, ung thư vú hoặc ung thư ruột giai đoạn cuối, được chẩn đoán bằng học pháp mô học hoặc tế bào học, chia ngẫu nhiên thành nhóm điều trị (nhóm thuốc cổ truyền + hóa trị) và nhóm đối chứng (chỉ hóa trị) bằng bảng số ngẫu nhiên do phần mềm thống kê thiết kế. Nhóm điều trị gồm 34 ca (trong đó 15 ca ung thư phổi, giai đoạn IIIb 6 ca, giai đoạn IV 9 ca; 10 ca ung thư ruột, giai đoạn III 2 ca, giai đoạn IV 8 ca; 9 ca ung thư vú, đều giai đoạn IV; có 1 vị trí di căn 13 ca, di căn hai vị trí trở lên 15 ca). Nhóm đối chứng gồm 27 ca (13 ca ung thư phổi, giai đoạn IIIb 5 ca, giai đoạn IV 8 ca; 7 ca ung thư ruột, giai đoạn III 2 ca, giai đoạn IV 5 ca; 7 ca ung thư vú, đều giai đoạn IV; có 1 vị trí di căn 9 ca, di căn hai vị trí trở lên 11 ca). Toàn bộ 12 ca là bệnh nhân điều trị lần đầu, 49 ca là bệnh nhân tái điều trị. So sánh dữ liệu lâm sàng hai nhóm, không có sự khác biệt rõ rệt (P > 0,05), có tính so sánh. Hai nhóm đều điều trị theo phác đồ hóa trị thông thường. Ung thư phổi chủ yếu dùng phác đồ Novan + cisplatin, ung thư ruột dùng phác đồ cisplatin + 5-fluorouracil + calcium folinate, ung thư vú dùng phác đồ paclitaxel + epirubicin. Nhóm điều trị bắt đầu uống thuốc cổ truyền bổ khí hoạt huyết (Viên bổ khí tiêu tích, thành phần: hoàng kỳ 50g, bạch truật 10g, đương quy 10g, xuyên khung 10g, địa long 10g, ô thụ 20g, tử thảo 20g) từ chu kỳ hóa trị đầu tiên. Theo tiêu chuẩn lâm sàng hiệu quả điều trị ung thư thể rắn do Tổ chức Y tế Thế giới đề ra [hồi phục hoàn toàn (CR), hồi phục một phần (PR), ổn định (SD), tiến triển (PD)], tiến hành kiểm tra hình ảnh và đánh giá hiệu quả trước điều trị và sau hai chu kỳ điều trị. Kết quả: nhóm điều trị có 12 ca PR (36,4%), 17 ca SD (51,5%), 4 ca PD (12,1%); nhóm đối chứng có 2 ca PR (7,4%), 18 ca SD (66,7%), 7 ca PD (25,9%), sự khác biệt hiệu quả giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Nhóm điều trị có 1 ca đạt CR do tràn dịch màng phổi. So sánh thời gian sống có khối u, nhóm điều trị (20,73 ± 20,02) tháng, nhóm đối chứng (11,93 + 5,08) tháng. So sánh tỷ lệ sống sót sau 24 tháng giữa hai nhóm có sự khác biệt rõ rệt (P < 0,05). So sánh thay đổi cân nặng, nhóm điều trị có 6 ca tăng cân (tăng hơn 2kg, duy trì trên 4 tuần), 23 ca ổn định (biến động cân nặng trong phạm vi 2kg), 5 ca giảm cân (giảm hơn 2kg, duy trì trên 4 tuần); nhóm đối chứng không có ca nào tăng cân, 20 ca ổn định (74,1%), 7 ca giảm cân (25,9%). So sánh giữa hai nhóm không có sự khác biệt rõ rệt. So sánh thể lực, nhóm điều trị cải thiện (số điểm ECOG giảm) 6 ca (17,6%), ổn định 23 ca (67,6%), suy giảm (số điểm ECOG tăng) 5 ca (14,7%); nhóm đối chứng ổn định 20 ca (74,1%), suy giảm 7 ca (25,9%). Tình trạng phân loại thể lực sau điều trị nhóm điều trị cải thiện rõ rệt, so với nhóm đối chứng có sự khác biệt rõ rệt (P < 0,01). Kết quả xét nghiệm phòng thí nghiệm cho thấy, do sử dụng thường xuyên thuốc tăng bạch cầu và thuốc bảo gan, sau điều trị bạch cầu và tiểu cầu bệnh nhân cơ bản bình thường. Hemoglobin thấp hơn mức bình thường trước và sau điều trị, nhóm điều trị lần lượt là 7 ca (20,6%) và 17 ca (50,0%), nhóm đối chứng là 4 ca (14,8%) và 13 ca (48,1%), so sánh giữa hai nhóm không có sự khác biệt rõ rệt. Sau điều trị, nhóm điều trị có 1 ca (2,9%) men transaminase tăng, nhóm đối chứng có 8 ca (29,6%) tăng, sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (P < 0,05); men transaminase nhóm điều trị tăng 4 ca (11,8%), nhóm đối chứng tăng 4 ca (14,8%); chỉ số ure máu nhóm điều trị tăng 1 ca (2,9%), nhóm đối chứng tăng 4 ca (14,8%), sự khác biệt thống kê đều không có ý nghĩa rõ rệt. So sánh thay đổi triệu chứng khí hư trong y học cổ truyền, so sánh trước và sau điều trị, hai nhóm đều cho thấy triệu chứng khí hư như ra mồ hôi, khó thở, ít nói, mệt mỏi giảm rõ rệt ở nhóm điều trị, nhóm đối chứng không thay đổi hoặc nặng hơn. Y học cổ truyền cho rằng “chính khí tồn tại bên trong, tà khí không thể xâm nhập”, “tà khí xâm nhập, khí chắc chắn hư”, sự hình thành ung thư cũng vậy. Do chính khí hư, tà khí lưu lại, kinh lạc không thông, huyết ứ kết tụ thành u. Các nhà nghiên cứu dựa vào chứng khí hư huyết ứ phổ biến ở bệnh nhân ung thư ác tính giai đoạn cuối, gia giảm từ phương cổ điển “Bổ Dương Hồi Ngũ Thang” để tạo thành phương “Bổ khí tiêu tích” bổ khí hoạt huyết, thay đổi liều hoàng kỳ trong phương ban đầu thành 50g, làm vị quân. Đồng thời thêm bạch truật, tăng cường tác dụng bổ khí kiện tỳ phục chính của hoàng kỳ. Hoàng kỳ bổ khí, ô thụ hóa ứ, hai vị phối hợp, bổ mà không ứ, chính khí càng mạnh, càng có thể thúc đẩy khả năng tiêu tán khối u. Tử thảo thay thế xích thược, tính chất thuốc tương tự, đồng thời có tác dụng ức chế u, tăng cường tác dụng thanh huyết giải độc, tiêu tích tán kết, giảm đau. Đương quy, xuyên khung, địa long phối hợp với ô thụ hoạt huyết khu ứ, tương hỗ nhau; đồng thời tử thảo tính hàn có thể điều hòa tính ấm của hoàng kỳ, bạch truật, khiến bài thuốc có tính chất bình hòa, vừa bổ vừa tiêu. Quan sát lâm sàng cho thấy, phương pháp bổ khí hoạt huyết không chỉ nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ của hóa trị, mà còn cải thiện triệu chứng khí hư ở bệnh nhân, cải thiện thể lực, nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài thời gian sống có khối u.
|