Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền Trung Hoa / Hệ thống y vụ và giáo dục y học thời ThanhBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Hệ thống y vụ và giáo dục y học thời Thanh

I. Hệ thống y vụ
(I) Viện Y (Đại Viên)
Trước Chiến tranh Nha Phiến, hệ thống y vụ thời Thanh chủ yếu kế thừa chế độ cũ của nhà Minh. Năm Thuận Trị nguyên niên (1644) thành lập Viện Y như một cơ quan y vụ trung ương độc lập. Nhiệm vụ là khám bệnh, điều chế thuốc cho hoàng đế, hoàng hậu và nhân viên trong cung, cũng đảm nhận các công việc y tế khác. Ban đầu, thiết lập một Viện trưởng (nguyên phẩm năm), hai Viện phó (nguyên phẩm sáu), phụ trách việc quản lý Viện Y. Dưới đây là 10 bác sĩ, 30 cán bộ y tế, 40 y sĩ, 20 bác sĩ, 20 bác sĩ cắt chế, phân công phụ trách các công việc tương ứng. Sau đó, các triều đại tiếp theo, số lượng quan viên trong Viện Y có thay đổi, năm Tề Tông thứ tám (1730) thêm 30 bác sĩ lương thực. Năm Càn Long thứ hai (1737) được phê chuẩn, việc bổ nhiệm bác sĩ lương thực sẽ là quy định cố định. Từ Viện trưởng trở xuống, tất cả các quan viên đều là người Hán, năm Càn Long thứ năm mươi tám (1793) đặc biệt cử một quan viên Mãn Châu một người quản lý công việc Viện Y.
Chức vụ và bổ nhiệm quan viên Viện Y. Viện trưởng do Viện phó trái thăng chức, Viện phó trái do Viện phó phải chuyển chức, Viện phó phải do bác sĩ thăng chức. Bác sĩ, cán bộ y tế, y sĩ... các chức vụ ban đầu do các tỉnh tuyển chọn người am hiểu lý luận y học nộp lên Viện Y, sau đó Viện Y tổ chức thi tuyển để bổ nhiệm.
(II) Dược phòng
Dược phòng là cơ quan chế biến thuốc phục vụ nhu cầu trong cung, thiết lập năm Thuận Trị thứ mười (1653), thuộc quản lý của nội giám tổng quản. Năm Khang Hy thứ ba mươi (1691) bãi bỏ nội giám tổng quản, thay bằng một người nội quản lĩnh, hai người phó nội quản lĩnh kiêm nhiệm.
Dược phòng chia làm hai khu: Đông Dược phòng và Tây Dược phòng, do bác sĩ Viện Y luân phiên trực cho hoàng đế. Tây Dược phòng do Viện trưởng, Viện phó, bác sĩ, cán bộ y tế luân phiên trực, gọi là "cung trực". Đông Dược phòng do bác sĩ, cán bộ y tế, y sĩ luân phiên trực, gọi là "lục trực".
Phòng thuốc viên minh, phòng thuốc Tây Phạn Thọ, Viện Y cũng như các cơ quan trong nội đình, đều cử bác sĩ trực. Khi hoàng đế đi tuần, quan viên Viện Y hoặc được chỉ định theo lệnh, hoặc theo luân phiên đi theo trực.
(III) Kho thuốc
Kho thuốc, còn gọi là kho thuốc sống. Do hai người trong số y sĩ được lựa chọn để quản lý kho thuốc, mua sắm dược liệu, mỗi hai năm thay đổi, thăng chức lên cán bộ y tế. Tất cả các nơi sản xuất dược liệu trong các tỉnh, mỗi năm theo quy định vận chuyển dược liệu đến kho, do quan viên quản kho kiểm tra, lưu trữ. Các dược liệu đều phải nộp dưới dạng dược liệu sống, được quan viên quản kho thuốc y sĩ kiểm tra, do các bác sĩ "Tô La" trong Dược phòng hoặc các bác sĩ dân gian được tuyển dụng để cắt chế, chế biến sẵn.
Thời Thanh, nhân sâm sản xuất ở khu vực Đông Bắc được quản lý riêng bởi hoàng gia, bán độc quyền, là nguồn kinh tế quan trọng và bảo đảm sinh hoạt đặc biệt của hoàng gia. Vì vậy, việc sử dụng nhân sâm trong Dược phòng bị kiểm soát nghiêm ngặt, thực hiện chế độ xin dùng, không giới hạn số lượng, khi dùng hết, phải ghi rõ số lượng tiêu hao, kèm theo số lượng cần thiết và tên chức danh, nộp đơn xin dùng.
(IV) Tổ chức phúc lợi xã hội
Đầu thời Thanh, bắt chước chế độ nhà Minh, có chế độ phát thuốc. Năm Thuận Trị từng xây dựng dược phòng ở phía nam núi Cảnh Sơn, Bắc Kinh, để bác sĩ cấp thuốc cho quân dân Mãn Hán. Thời kỳ trung kỳ Khang Hy từng mở rộng, thiết lập xưởng phát thuốc ở năm thành phố, đến năm thứ bốn mươi (1701) ngừng hoạt động.
Các nhà cai trị thời Thanh, địa chủ, quý tộc, nhằm giảm bớt mâu thuẫn giai cấp, đã thành lập các tổ chức như Dưỡng Tế Viện, Phổ An Đường, Dưỡng Nhi Đường và nhà ăn cháo, để chăm sóc người nghèo, mồ côi, không nơi nương tựa, thể hiện ân huệ với dân chúng.
Dưỡng Tế Viện đã có từ thời Minh, năm Thiên Thuận của An Tông, sắc lệnh cho Bộ Tài chính, lệnh cho Thừa Thiên Phủ lập một Dưỡng Tế Viện tại huyện Đại Hưng và Vạn Bình. Thời Thanh duy trì theo chế độ cũ, thiết lập Dưỡng Tế Viện ở Bắc Kinh và các nơi trong cả nước, chăm sóc người già cô độc, người tàn tật, không nơi nương tựa, chính phủ cấp tiền bạc và gạo, người sĩ phong địa phương nếu muốn đóng góp, được phép hiến tặng. Thời Càn Long còn bổ sung người trên sáu mươi tuổi hoặc bị bệnh nặng, người phạm tội lưu đày, không thể lao động, vào Dưỡng Tế Viện, cấp gạo cho người nghèo theo danh sách.
Ở Bắc Kinh và các tỉnh ngoài, còn có Phổ Tế Đường, thu nhận người già yếu, bệnh tật, không nơi nương tựa. Thời đầu Càn Long, quy định: người lớn mỗi ngày được cấp tám hợp gạo, trẻ em giảm một nửa.
Trong lịch sử Trung Hoa, "thiện dưỡng trẻ nhỏ" luôn được coi là đức hạnh. Thời Tống, Tôn Hựu, thành lập Cơ sở Thiện Dưỡng để chăm sóc trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trên đường. Thời Thanh, thành lập Dưỡng Nhi Đường, thu nhận trẻ sơ sinh bị bỏ rơi hoặc không thể nuôi dưỡng.
II. Giáo dục y học
Trước Chiến tranh Nha Phiến, giáo dục y học thời Thanh thiết lập giáo viên để đào tạo nhân tài y sĩ, chia thành giáo viên nội và giáo viên ngoại, mỗi loại hai người, do bác sĩ, cán bộ y tế chọn người có phẩm chất và học vấn tốt để đảm nhiệm. Giáo viên nội ở tại Đông Dược phòng, phụ trách giảng dạy cho các thái giám trong Dược phòng học sách y học. Giáo viên ngoại phụ trách giảng dạy cho sinh viên mới vào Viện Y học và con cháu y sĩ học y học. Những người đến học phải do quan viên đồng hương cấp sáu phẩm trở lên giới thiệu, người Mãn Châu phải do trưởng đội giới thiệu, và được bác sĩ Viện Y bảo lãnh, do quan viên đầu mối kiểm tra, biết sơ qua lý luận y học, thông thạo tiếng Bắc Kinh, đạt yêu cầu mới được nhập học, gọi là bác sĩ. Sau khi nhập học, gọi là sinh viên học tập.
Phân ngành y học đã cải cách ba lần, thời Thuận Trị chia thành 11 ngành: đại phương mạch, tiểu phương mạch, đậu trấn, thương hàn, nữ nhân, sơn dương, châm cứu, nhãn khoa, khẩu tỷ, hầu họng, chính cốt. Năm嘉庆 thứ hai (1797) chia đậu trấn vào tiểu phương mạch, khẩu tỷ và hầu họng hợp thành một ngành, còn lại 9 ngành. Năm嘉庆 thứ sáu (1802) theo sắc lệnh, ngành chính cốt được chuyển sang do bác sĩ Mông Cổ của Thượng Tứ Viện đảm nhiệm, còn lại 8 ngành. Năm Đạo Quang thứ hai (1822) theo sắc lệnh, phương pháp châm cứu không phù hợp với việc phụng sự vua, ngành châm cứu của Viện Y mãi mãi ngừng hoạt động, còn lại 7 ngành. Năm Đồng Trị thứ năm (1866) đổi thành: đại phương mạch (gộp thương hàn, nữ nhân), tiểu phương mạch, ngoại khoa (tức là sơn dương), nhãn khoa, khẩu tỷ hầu họng, còn lại 5 ngành. Nội dung giảng dạy chủ yếu là "Hoàng Đế Nội Kinh", "Bản Thảo Cương Mục", "Nghĩa Luận Thương Hàn", "Kim Quí Yếu Lược", cùng các sách y học chuyên ngành, sau này thêm học "Y Tông Kim Giám", dần dần trở thành giáo trình chính. Sinh viên học tập thông thường học 3 năm, sau đó do quan viên Bộ Lễ tổ chức thi, đạt yêu cầu được đánh dấu là y sĩ, không đạt yêu cầu tiếp tục học tập chờ thi lại. Những sinh viên học tập hơn một năm, qua ba kỳ kiểm tra mỗi quý, xếp loại nhất, nếu có chỗ trống trong số lương sinh, có thể báo cáo Bộ Lễ bổ sung, không cần thi lại.
Thời Thanh, dù ở địa phương cũng có mở trường y học, quy định chế độ thi cử, nhưng quy mô nhỏ. Thành phố lập ngành chính, châu lập ngành điển, huyện lập ngành huấn, mỗi nơi chỉ một người, đều không vào hàng ngũ quan chức. Năm雍正 nguyên niên (1723) được phê chuẩn, lệnh các tổng đốc tỉnh khảo sát bác sĩ trong vùng, đối với những người thông thạo "Hoàng Đế Nội Kinh chú thích", "Bản Thảo Cương Mục", "Nghĩa Luận Thương Hàn", đề nghị bổ nhiệm làm giáo viên y học, mỗi tỉnh một người, được hưởng lương ba năm. Trong thời gian này, nếu làm việc tích cực, cẩn trọng, phẩm đức tốt, sẽ được thăng chức vào Viện Y, bổ nhiệm làm bác sĩ, chỗ trống do người học y trong tỉnh tuyển chọn bổ nhiệm.
Trong suốt triều đại Thanh, giáo dục y học tuy chủ yếu kế thừa chế độ từ thời Tống và Minh, nhưng xu hướng suy yếu, không còn phồn vinh như các triều đại trước, truyền thống lâu đời của việc dạy y học gia truyền và thầy trò truyền dạy trở thành hình thức chính để đào tạo y học, tạo ra nhiều danh y.
Giáo dục đạo đức y học được các bác sĩ Trung Hoa qua các triều đại coi trọng, đặc biệt là thời Thanh. Trong các tác phẩm y học của họ, gần như đều bàn về đạo đức cần có của một bác sĩ, giáo dục hậu thế, quy tắc đạo đức y học cơ bản có thể tóm tắt thành: (1) không vì danh lợi; (2) cấp tốc giúp bệnh nhân; (3) đối xử bình đẳng với người giàu và người nghèo; (4) trân trọng sinh mệnh con người; (5) khiêm tốn cẩn trọng, học hỏi lẫn nhau.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]