Các huyệt vị dưỡng sinh thường dùng trên kinh mạch – Kinh Thủ Thái Âm Phế Kinh - Kinh Thủ Dương Minh Đại Tràng Kinh - Kinh Túc Dương Minh Vị Kinh - Kinh Túc Thái Âm Tỳ Kinh - Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh - Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh - Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh - Kinh Túc Thiếu Âm Thận Kinh - Kinh Thủ Jué Âm Tâm Bảo Kinh - Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Giao Kinh - Kinh Túc Thiếu Dương Đởm Kinh - Kinh Túc Jué Âm Can Kinh - Các kinh mạch khác (1) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Thái Âm Phế Kinh. Trung Phủ: ở vùng trước ngực, phía ngoài bên trên, cách đường giữa trước 6 tấc, ngang mức khe xương sườn thứ nhất. Huyệt này có chức năng tuyên phế lý khí, thanh tả nhiệt ở tâm phế, bình suyễn chỉ khái, có tác dụng bảo kiện nhất định đối với chức năng phổi. Khi châm cứu, nên châm xiên ra ngoài hoặc châm ngang, sâu 0,5–0,8 tấc, không được châm quá sâu để tránh tổn thương phổi. Lieque: ở phía trên gai củ cẳng tay, ngang mức nếp uốn cổ tay 1,5 tấc. Huyệt này có thể tuyên phế lý khí, lợi hầu rộng ngực, thông kinh hoạt lạc, có thể phòng trị đau họng, miệng méo, nửa người bất lực, đau răng, ho, thở dốc. Khi châm cứu, nên châm xiên lên 0,3–0,5 tấc. Thiếu Thương: ở cạnh móng tay ngón trỏ, cách 0,1 tấc. Huyệt này có thể thanh nhiệt, lợi hầu, khai khiếu, là một trong những huyệt cấp cứu, có hiệu quả tốt trong phòng trị sốt cao, hôn mê, choáng váng, đau họng, điên cuồng, chảy máu cam. Khi châm cứu, nên châm nông 0,1 tấc, hoặc châm nông rồi lấy máu. Tài Uyên: ở đầu rìa cổ tay phía lòng bàn tay, chỗ lõm bên cạnh động mạch đập. Huyệt này có thể thanh phế lợi hầu, thông suốt kinh lạc, do đó có thể phòng trị các bệnh về phổi, họng, đồng thời phòng trị chứng vô mạch. Khi châm cứu, cần tránh động mạch, châm thẳng 0,3–0,5 tấc. (2) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Dương Minh Đại Tràng Kinh. Hợp Cốc: ở khoảng giữa hai xương bàn tay thứ nhất và thứ hai, khoảng ngang mức giữa xương bàn tay thứ hai. Đây là một trong những huyệt vị dưỡng sinh quan trọng, thường xuyên massage hoặc châm cứu sẽ giúp sống lâu. Chức năng của huyệt này là tỉnh não khai khiếu, thư phong thanh nhiệt, trấn thống thông lạc, có thể phòng trị các chứng bệnh về đầu mặt ngũ quan. Nhiễm độc, không ra mồ hôi, ra mồ hôi tự phát, ra mồ hôi ban đêm, kinh nguyệt không đều, sản gián, hôn mê, động kinh, bại chứng. Châm thẳng 0,5–1 tấc. Khúc Trì: ở phía ngoài xương cánh tay, cuối nếp gấp khuỷu tay chính là huyệt này. Huyệt này có chức năng thanh nhiệt lợi thấp, trừ phong giải biểu, điều hòa dinh vệ, có hiệu quả tốt đối với chứng tê bại chi trên, tăng huyết áp, đau họng. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy huyệt này có khả năng điều chỉnh huyết áp, cố định răng, ngăn ngừa thoái hóa thị lực ở người già. Có thể châm thẳng 1–1,5 tấc. Dương Hương: ở điểm giữa mép cánh mũi, cách 0,5 tấc bên ngoài, nằm trong rãnh mũi môi. Huyệt này có chức năng thanh nhiệt tán phong, thông khiếu mũi, có hiệu quả tốt trong phòng trị nghẹt mũi, chảy máu cam, miệng méo, giun đường mật. Có thể châm xiên hoặc châm ngang 0,3–0,5 tấc. (3) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Dương Minh Vị Kinh. Túc Tam Lý: ở dưới gối 3 tấc, bên trong gân lớn xương chày. Huyệt này là huyệt mạnh toàn thân, có thể kiện tỳ vị, trợ tiêu hóa, ích khí tăng lực, nâng cao chức năng miễn dịch và khả năng chống bệnh của cơ thể. Ở nước ngoài, tác dụng của huyệt Túc Tam Lý cũng rất được chú ý, đặc biệt tại Nhật Bản, có người nói: “Mỗi tháng châm cứu huyệt Túc Tam Lý mười ngày, tuổi thọ có thể đạt hơn 200 tuổi.” Gia đình ông Mãn Bình tại Nhật Bản gồm 5 người đều sống trên trăm tuổi, tự nhận nguyên nhân là do gia truyền phương pháp “châm cứu Túc Tam Lý”. Châm cứu huyệt này có hiệu quả tốt trong phòng trị đau dạ dày, đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón, tăng huyết áp, suy nhược thần kinh, và các chứng liệt chi dưới, có thể châm thẳng 1–2 tấc. Địa Thương: ở bên ngoài mép miệng, cách 0,4 tấc. Huyệt này có thể sơ phong thông lạc, phòng trị các chứng như viêm miệng, nước miếng chảy, co giật mí mắt, có thể châm xiên hoặc châm ngang 0,5–0,8 tấc. (4) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Thái Âm Tỳ Kinh. Tam Âm Giao: ở điểm cao của gót chân, lên trên 3 tấc, ở phía sau mặt trong xương chày. Huyệt này có vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức khỏe các tạng phủ trong ổ bụng, đặc biệt là hệ sinh dục. Có thể phòng trị chứng đầy bụng, tiêu chảy, kinh nguyệt không đều, băng huyết, liệt dương di tinh, đái dầm, mất ngủ, sưng phù, vô sinh. Có thể châm thẳng 1–1,5 tấc, khi đã cảm giác được khí, tức thì rút kim; người thể trạng yếu có thể lưu kim 5–10 phút. Mỗi ngày một lần, hoặc cách ngày một lần. Huyết Hải: ở trên 2 tấc so với mép trên xương bánh chè, phía trong. Huyệt này điều hòa khí huyết, trừ phong thắng thấp, có thể phòng trị kinh nguyệt không đều, băng huyết, kinh nguyệt tắt, vảy da, đau khớp gối. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. (5) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh. Thần Môn: ở cuối nếp uốn cổ tay, chỗ lõm bên cạnh cơ duỗi cổ tay trong. Huyệt này có thể dưỡng tâm an thần, phòng trị chứng tim đau, lo âu, quên, mất ngủ, kinh sợ, tim đập loạn, điên cuồng. Có thể châm thẳng 0,3–0,4 tấc. Thông Lý: ở vị trí cách 1 tấc phía trên huyệt Thần Môn. Huyệt này an thần định tâm, thông khiếu hoạt lạc, có hiệu quả tốt trong phòng trị chứng tim đau, tim đập loạn, đau họng, mất tiếng đột ngột, lưỡi cứng không nói được, mất ngủ, đau cổ tay cánh tay. Có thể châm thẳng 0,5–0,8 tấc. (6) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh. Hậu Tụy: nắm tay lại, ở phía sau rãnh ngón tay út, nơi đầu nếp gấp ngón tay út, ranh giới giữa da đỏ và da trắng. Huyệt này có thể an thần định tâm, giãn gân hoạt lạc, tán phong thanh nhiệt, có thể phòng trị chấn thương lưng cấp tính, đau cổ, đau đầu, tai đau, đau họng, đau răng, điên cuồng. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. Thính Cung: ở trước tai, phía sau gai hàm dưới, khi há miệng sẽ thấy chỗ lõm. Huyệt này có thể an thần, thông khiếu tai, do đó có hiệu quả tốt trong phòng trị điếc, ù tai, viêm tai giữa, đau răng, điên cuồng. Khi châm cứu nên há miệng, châm thẳng 1–1,5 tấc. (7) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh. Chí Âm: ở mép ngoài móng chân cái, cách khoảng 0,1 tấc. Huyệt này có thể thanh đầu mục, thông huyết mạch, lý khí cơ, phòng trị chứng đau đầu, chóng mặt, nghẹt mũi, thai vị bất chính. Có thể châm nông 0,1 tấc, nhưng phụ nữ mang thai không được châm. Tam Giao Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống thắt lưng thứ nhất. Huyệt này có thể kiện tỳ lợi thấp, thông lợi tam tiêu, phòng trị chứng phù thũng, đau lưng đau thắt lưng, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, đầy bụng. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. Thận Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống thắt lưng thứ hai. Huyệt này có tác dụng bổ thận ích tinh, tráng lưng lợi thấp, phòng trị chứng liệt dương, di tinh, kinh nguyệt không đều, ù tai điếc tai, phù thũng, đau lưng. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. Vị Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống thắt lưng thứ mười hai. Huyệt này có thể hòa vị lý khí, hóa thấp tiêu tích, là huyệt dưỡng sinh tăng cường nguồn gốc hậu thiên – khí vị, có hiệu quả tốt trong phòng trị chứng đau dạ dày, ăn ít, đầy bụng, tiếng ruột, buồn nôn, tỳ vị hư nhược. Có thể châm xiên 0,5–0,8 tấc. Bì Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống thắt lưng thứ mười một. Đây là huyệt dưỡng sinh của tạng Bì – nguồn gốc sinh hóa khí huyết trong cơ thể, chức năng kiện tỳ lợi thấp, hòa vị giáng nghịch, có thể phòng trị chứng mệt mỏi tứ chi, đau lưng, đầy bụng tiêu chảy. Nên châm xiên 0,5–0,8 tấc. Gan Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống thắt lưng thứ chín. Đây là huyệt dưỡng sinh của gan, có thể thư can lợi đởm, dưỡng huyết minh mục. Có thể châm xiên 0,5–0,8 tấc. Tâm Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống ngực thứ năm. Huyệt này an tâm an thần, rộng ngực giảm đau, là huyệt dưỡng sinh thường dùng cho tim, có hiệu quả tốt trong phòng trị chứng tim đau, lo âu, kinh sợ, quên, ngực đầy, mơ tinh, ra mồ hôi ban đêm, điên cuồng. Không nên châm sâu, có thể châm xiên, châm thẳng 0,5–0,8 tấc. Phế Du: ở vị trí cách 1,5 tấc bên ngoài gai đốt sống ngực thứ ba, là huyệt dưỡng sinh của phổi. Có thể tuyên phế, bình suyễn, lý khí, phòng trị các chứng do rối loạn chức năng phổi gây ra. Châm xiên 0,5–0,8 tấc, không nên châm sâu. (8) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Thiếu Âm Thận Kinh. Dung Tuyền: ở vị trí giao điểm giữa 1/3 trước và 2/3 sau lòng bàn chân, chỗ lõm khi co chân. Huyệt này có thể an thần, khai khiếu, thanh nhiệt, cũng là một trong những huyệt dưỡng sinh thường dùng. Có hiệu quả tốt trong phòng trị chứng đau đầu, chóng mặt, hôn mê do đột quỵ, choáng váng, trẻ nhỏ co giật, tiểu khó, đại tiện khó. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. Tài Khê: ở chỗ lõm giữa gót chân và gân gót chân. Huyệt này có thể tráng lưng kiện cốt, ích thận, là huyệt dưỡng sinh thường dùng. Có thể phòng trị chứng đau lưng, kinh nguyệt không đều, liệt dương, di tinh, mất ngủ, tiểu nhiều. Khi châm cứu nên châm thẳng 0,5–1 tấc. (9) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Jué Âm Tâm Bảo Kinh. Nội Quan: ở vị trí cách 2 tấc phía trên nếp uốn cổ tay, thẳng hướng lên. Huyệt này có thể rộng ngực an thần, hòa vị chỉ đau, hạ nghịch chỉ nôn, có hiệu quả tốt trong phòng trị các chứng bệnh liên quan đến tim như đau tim, mất ngủ, ngực đầy, tim đập loạn. Có thể châm thẳng 0,5–1 tấc. Trung Sương: ở trung tâm đầu ngón tay giữa, là một trong những huyệt cấp cứu thường dùng. Huyệt này có thể thanh tâm khai khiếu, hạ sốt phục hồi, có hiệu quả nhất định trong trường hợp hôn mê do đột quỵ, lưỡi cứng không nói được, ngực khó chịu, sốt cao, co giật ở trẻ nhỏ. Nên châm nông 0,1 tấc hoặc châm điểm và lấy máu. (10) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Giao Kinh. Dương Trì: ở giữa nếp uốn cổ tay phía sau, chỗ lõm ở cạnh gân duỗi ngón tay. Huyệt này có thể giãn gân, thông lạc, giải nhiệt, có tác dụng dưỡng sinh tốt, hiệu quả phòng trị đau vai cánh tay, đau cổ tay, viêm hạch amiđan. Nên châm thẳng 0,3–0,5 tấc. Chi Câu: ở vị trí cách 3 tấc phía trên nếp uốn cổ tay, giữa xương trụ và xương cẳng tay. Huyệt này có thể lý khí giải uất, thông tiện, thông kinh lạc, có thể phòng trị táo bón, đau sườn, ù tai điếc tai. Nên châm thẳng 0,8–1 tấc. (11) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Thiếu Dương Đởm Kinh. Phong Trì: ở giữa cơ thon cổ và cơ chẩm, ngang mức huyệt Phong Phủ, là một trong những huyệt dưỡng sinh tốt. Chức năng là sáng mắt minh tai, tỉnh não khai khiếu, thư phong thanh nhiệt, có thể phòng trị các chứng như suy nhược thần kinh, đau cổ, mắt đỏ đau, đột quỵ, ù tai. Khi châm cứu nên châm xiên hướng về hướng mắt đối diện 0,5–1 tấc. Hàn Thoát: ở giao điểm 1/3 ngoài và 2/3 trong của đường nối điểm cao nhất của đầu xương đùi với khe xương cùng. Huyệt này có tác dụng thông kinh hoạt lạc mạnh mẽ, có thể phòng trị các chứng đau lưng hông, liệt nửa người do đột quỵ, phong hàn thấp, viêm thần kinh ngồi, liệt chi dưới. Có thể châm thẳng 2–3 tấc. (12) Huyệt vị dưỡng sinh trên Kinh Túc Jué Âm Can Kinh. Thái Xung: ở chỗ lõm giữa hai xương bàn chân thứ nhất và thứ hai. Huyệt này có thể sơ can lý khí, định kinh trừ phong, thông lạc hoạt huyết, phòng trị chứng đau đầu, chóng mặt, tăng huyết áp, ngực đầy, đau sườn. Nên châm thẳng 0,5–1 tấc. Chương Môn: ở đầu xương sườn thứ mười một. Huyệt này vừa có thể kiện tỳ vị, vừa có thể sơ can lý khí, hoạt huyết hóa ứ, mọi chứng như đầy bụng, đau dạ dày, đau sườn, nôn mửa đều có thể châm. Có thể châm thẳng 0,8–1 tấc. (13) Huyệt vị dưỡng sinh trên các kinh mạch khác. Quan Nguyên: ở vị trí cách 3 tấc dưới rốn, là huyệt dưỡng sinh quan trọng. Có tác dụng tăng cường thể chất, chức năng: ôn thận cố tinh, bổ khí hồi dương, thanh nhiệt lợi thấp, có thể phòng trị chứng đau bụng, kinh nguyệt không đều, vô sinh, băng huyết, di tinh. Nên châm thẳng 1–2 tấc, nhưng phụ nữ mang thai không được châm. Khí Hải: ở vị trí cách 1,5 tấc dưới rốn, là huyệt dưỡng sinh quan trọng, có tác dụng tăng cường thể chất. Chức năng: nâng dương bổ khí, bổ hư cố bản, có thể phòng trị kinh nguyệt không đều, chứng đột quỵ do suy kiệt, băng huyết, băng huyết, sa trực tràng. Nên châm xiên 0,5 tấc, khi cảm giác được khí, tức thì rút kim. Tốt nhất nên phối hợp châm với huyệt Túc Tam Lý, mỗi tuần 1–2 lần, có tác dụng tăng cường thể chất. Mệnh Môn: lấy huyệt ở vị trí ngang mức đốt sống thắt lưng thứ hai. Chức năng bổ dương thận mạnh mẽ, cố tinh tráng dương. Có thể phòng trị chứng đau lưng, liệt dương, kinh nguyệt đau, suy nhược thần kinh, đau đầu. Nên châm xiên lên 0,5–1 tấc. Trung Quản: ở vị trí cách 4 tấc trên rốn. Có chức năng kiện tỳ lợi thấp, hòa vị giáng nghịch, có thể phòng trị chứng đau dạ dày, bệnh tiêu chảy, nôn mửa, ợ hơi. Nên châm thẳng 1–2 tấc. Bách Hội: ở vị trí thẳng đứng trên 7 tấc từ mép sau tóc. Có thể khai khiếu an thần, bình can tư phong, nâng dương cố thoát, có hiệu quả tốt trong phòng trị chứng đau đầu, chóng mặt, nói không ra do đột quỵ, sa trực tràng. Nên châm ngang 0,5–0,8 tấc. Thập Tuyên: ở đầu ngón tay mười ngón tay, cách móng tay 0,1 tấc. Huyệt này có thể thanh thần trí, lợi họng, là huyệt kỳ diệu trên chi bộ, có hiệu quả tốt trong phòng trị hôn mê, say nắng, bệnh nhiệt, tê ngón tay, đau họng, ngất xỉu. Có thể châm thẳng 0,1–0,2 tấc; hoặc dùng kim ba cạnh châm điểm và lấy máu. Sử dụng châm cứu dưỡng sinh, ngoài việc nắm vững kỹ thuật dùng kim và chọn huyệt, còn phải nắm vững một số nguyên tắc châm cứu. Nguyên tắc châm cứu Về phối huyệt: Khi châm cứu dưỡng sinh, có thể chọn đơn huyệt, cũng có thể chọn một nhóm huyệt. Nếu muốn tăng cường chức năng của một phần nào đó, có thể chọn đơn huyệt để làm nổi bật hiệu ứng; nếu muốn điều chỉnh chức năng tổng thể, có thể chọn một nhóm huyệt để tăng hiệu quả. Trong thực hành cụ thể, tùy tình hình mà quyết định. Về thi hành châm cứu: Khi dùng kim châm cứu dưỡng sinh, dưỡng sinh trường thọ, kim nên dùng nhẹ nhàng, cường độ kích thích cũng phải vừa phải, thông thường không nên quá lớn. Thời gian lưu kim không nên quá lâu, khi cảm giác được khí là rút kim; độ sâu châm cứu cũng nên tùy theo từng người. Đặc biệt người già yếu và trẻ nhỏ, kim vào không nên quá sâu, nhưng người thể trạng khỏe mạnh, béo phì thì nên châm sâu hơn một chút. Về cấm kỵ: Khi châm cứu nên tránh mạch máu, tránh chảy máu. Những bệnh nhân có xu hướng xuất huyết tự phát không nên châm cứu. Người quá mệt mỏi, đói, căng thẳng tinh thần cao độ không nên châm cứu. Phụ nữ mang thai dưới 3 tháng, vùng bụng dưới cấm châm; từ 3 tháng trở lên, vùng bụng trên, bụng dưới, lưng và hông cấm châm. Ngoài ra, các huyệt có thể gây co tử cung như Hợp Cốc, Tam Âm Giao, Khúc Cung, Chí Âm đều không nên châm cứu. Những vùng da bị nhiễm trùng, loét, sẹo hay khối u không nên châm cứu.
|