Các loại rượu và đặc tính của rượu Trung Hoa Mọi loại đồ uống chứa thành phần ethanol (tức là cồn) đều gọi là rượu. Số lượng rượu rất nhiều, do phương pháp sản xuất khác nhau, hàm lượng cồn khác nhau và thói quen thương mại, nên phương pháp phân loại và tiêu chuẩn cũng không thống nhất. Nếu theo thói quen thương mại, có thể chia thành năm loại: rượu trắng, rượu nếp, rượu trái cây, rượu thuốc, rượu bia; nếu theo phương pháp sản xuất, có thể chia thành ba loại: rượu chưng cất, rượu lên men, rượu pha chế; nếu theo hàm lượng cồn, có thể chia thành rượu mạnh (trên 40 độ), rượu trung bình (dưới 40 độ, trên 20 độ) và rượu nhẹ (hàm lượng cồn dưới 20 độ). Ví dụ như rượu vang, rượu nếp, các loại rượu trái cây và rượu bia đều thuộc loại rượu nhẹ. Hiện nay, rượu trắng độ thấp bán trên thị trường dưới 39 độ thực ra nên được xếp vào loại rượu trung bình. Trung Quốc thường phân loại rượu theo thói quen thương mại truyền thống. Dưới đây lần lượt giới thiệu đặc tính của rượu trắng, rượu nếp, rượu trái cây, rượu bia và rượu thuốc, để bạn đọc lựa chọn phù hợp với tình trạng sức khỏe và nhu cầu của bản thân, uống vừa phải. Rượu trắng: Là loại đồ uống chứa cồn đậm đặc, được làm từ ngũ cốc hoặc khoai lang. Quy trình sản xuất khác với rượu trái cây và rượu nếp, được sản xuất bằng phương pháp chưng cất, hàm lượng cồn thường từ 50-60 độ, kể cả loại rượu trắng "độ thấp" đang thịnh hành trên thị trường hiện nay cũng thường trên 30 độ. Trung Quốc là quốc gia cổ truyền văn hóa rượu nổi tiếng thế giới, có vị thế độc đáo trong lịch sử sản xuất rượu. Từ rượu trắng hương tương đại diện bởi Mao Đài, rượu trắng hương thanh đại diện bởi Phân Tử, rượu trắng hương đậm đại diện bởi Ngũ Lương Dục... tạo thành một gia đình rượu trắng đa dạng về hương vị độc đáo. Rượu trắng rất coi trọng màu sắc, hương vị, vị: trong suốt, thơm ngon, hương vị riêng biệt. Đặc điểm rượu hương tương là thơm đậm đà, hương thơm tinh tế, hậu vị kéo dài; đặc điểm rượu hương thanh là thơm thuần khiết, hương dịu nhẹ, hậu vị thanh khiết (như rượu Phân Tử, Tây Phong, Hành Tỉnh Lão Bạch Can...); đặc điểm rượu hương đậm là "hương, ngọt, đậm, sạch" bốn tuyệt, thơm nồng, hậu vị kéo dài (loại này có nhiều tên rượu nổi tiếng, như Ngũ Lương Dục, Kiến Nam Xuân, Hồ Châu Lão Gạo, Cổ Cảnh Cống, Dương Hà Đại Khúc, Toàn Hưng Đại Khúc, Song Câu Đại Khúc...); ngoài ra còn có loại rượu hương gạo, đặc điểm là thơm mật dịu nhẹ, vị ngọt dịu, hậu vị dễ chịu, ví dụ như rượu Tam Hoa ở桂林. Về rượu hỗn hợp hương, tên gọi đã nói rõ, đặc điểm là một loại rượu có nhiều hương, dù ngửi, nếm hay回味, đều có hương khác nhau, ví dụ như rượu Đông U. Rượu nếp: Tên gọi theo màu sắc, còn gọi là rượu cũ, là loại rượu nhẹ, hàm lượng cồn thường từ 15% đến 20%. Rượu nếp cũng được làm từ ngũ cốc. Quy trình sản xuất khác biệt hoàn toàn so với rượu trắng, được sản xuất bằng phương pháp ép lọc, do đó giữ tốt các chất như glucose, dextrin, glycerin, khoáng chất, axit axetic, anđehit, este... được tạo ra trong quá trình lên men. Theo phân tích, lượng calo cung cấp bởi rượu nếp cao hơn cả bia và rượu vang. Rượu nếp chứa hơn mười loại axit amin, phần lớn là axit amin mà cơ thể con người không thể tổng hợp được và là thiết yếu đối với cơ thể. Theo đo đạc, hàm lượng lysine trong mỗi lít rượu nếp là cao nhất trong các loại rượu dinh dưỡng trên thế giới và Trung Quốc, vì vậy người ta gọi rượu nếp là "bánh mì lỏng". Ngoài ra, vì hàm lượng cồn trong rượu nếp thấp hơn nhiều so với rượu trắng và các loại rượu chưng cất khác, không chỉ giàu dinh dưỡng mà còn có công dụng bổ huyết khí, trợ vận hóa, thư giãn gân cốt, hoạt huyết, kiện tỳ bổ vị, khu phong tán hàn, vì vậy trong y học được sử dụng rộng rãi để chữa bệnh, chế thuốc. Ví dụ như rượu Gia Phạn ở Tô Châu, rượu Trạng Nguyên Hồng, rượu Cấp Mộc Cựu. Rượu trái cây: Là loại rượu được lên men từ trái cây. Vì rượu vang có sản lượng, chất lượng, giống và danh tiếng vượt trội so với các loại rượu trái cây khác, tự nhiên trở thành đại diện của nhóm rượu trái cây. Vì rượu vang không trải qua quá trình chưng cất, nên thuộc loại rượu lên men, do đó giữ tốt các thành phần dinh dưỡng trong quả nho tươi, đồng thời trong quá trình lên men và bảo quản, loạt phản ứng sinh hóa tạo ra các chất hữu ích mới cho cơ thể. Những thành phần này tạo nên hương vị đặc trưng của rượu vang, cũng cấu thành tính năng dinh dưỡng của nó. Rượu vang chứa cồn, axit, đường, este, khoáng chất, protein, nhiều loại axit amin và nhiều loại vitamin. Vì vậy, uống vừa phải rất có lợi cho sức khỏe, không chỉ bổ dưỡng, tăng cường sức khỏe, kích thích thèm ăn, hỗ trợ tiêu hóa, mà còn có hiệu quả phòng và điều trị tốt đối với các bệnh tim mạch, thiếu máu, hạ huyết áp, suy nhược thần kinh... Hàm lượng cồn trong rượu vang thấp, thường từ 8 đến 24 độ, hiện nay rượu vang sản xuất ở Trung Quốc trên thị trường chủ yếu khoảng 12 độ. Rượu bia: Là loại đồ uống dinh dưỡng phổ biến toàn cầu, phù hợp với nam nữ, trẻ em và người già. "Rượu bia" là từ phiên âm tiếng Anh. Nó du nhập vào Trung Quốc chỉ có hơn trăm năm lịch sử. Rượu bia được làm từ lúa mạch nảy mầm, đường hóa sau đó thêm hoa bia và men lên men. Rượu bia là loại rượu có hàm lượng cồn thấp nhất, chỉ từ 3 đến 5 độ, đồng thời chứa nhiều thành phần dinh dưỡng, ngoài nước và carbohydrate còn chứa hoa bia, protein, CO₂, axit amin phong phú, canxi, photpho và vitamin. Theo đo đạc, 1 lít rượu bia 12 độ (theo độ ghi trên chai bia, không phải độ cồn, mà là tỷ lệ trọng lượng nguyên liệu mạch nha ban đầu trong dung dịch bia, tức là độ đường) tương đương với 770 gram sữa bò hoặc 210 gram bánh mì. Vì vậy, rượu bia còn được mệnh danh là "bánh mì lỏng". Ngoài ra, vì hoa bia chứa dầu thơm dễ bay hơi, rượu bia vừa có hương thơm đặc biệt, vừa có vị đắng dễ chịu, do đó có công dụng kiện vị, lợi tiểu và an thần, còn CO₂ giúp rượu bia có chức năng giải nhiệt, hạ sốt. Rượu thuốc: Thuộc loại rượu pha chế, trong y học cổ truyền Trung Hoa gọi là "rượu tân". Được làm từ rượu trắng, rượu cồn thực phẩm, rượu nếp hoặc rượu vang, tùy theo bệnh lý, chọn phương thuốc khác nhau, dùng phương pháp khác nhau để chế tạo, chủ yếu là ngâm thuốc rồi pha chế. Rượu thuốc là sản phẩm truyền thống Trung Quốc. Trong "Bổ thảo cương mục" của Lý Thời Trân thời Minh ghi chép 69 loại rượu thuốc, một số vẫn còn được sử dụng đến ngày nay. Rượu thuốc đa dạng về chủng loại, công dụng khác nhau, vừa có tác dụng bồi bổ, vừa có hiệu quả điều trị. Thông thường, rượu thuốc có tác dụng bồi bổ gọi là rượu bổ, rượu thuốc có tác dụng điều trị gọi là rượu thuốc. Vì sử dụng rượu khác nhau nên độ cồn cũng khác nhau. Rượu thuốc cô đặc, hiệu quả rõ ràng, tác dụng nhanh, dùng đơn giản, dễ bảo quản và mang theo, vì vậy được sử dụng rộng rãi trong các bệnh nội khoa, ngoại khoa và phụ khoa. Tuy nhiên, vì rượu mạnh, phạm vi sử dụng có giới hạn nhất định, một số bệnh nhân không nên uống, trong lâm sàng phải tuân theo hướng dẫn bác sĩ, tuyệt đối không được lạm dụng.
|