“Hoàng Đế Nội Kinh” tổng hợp các lý luận dưỡng sinh của các trường phái triết học trước Tần, thảo luận từ góc độ y học về dưỡng sinh và sống thọ, tạo ra nhiều lý luận và phương pháp dưỡng sinh. Quan niệm tự nhiên “Thiên nhân hợp nhất”. Cơ thể con người phải tuân theo quy luật tự nhiên mới duy trì hoạt động sống bình thường. “Phản vi thì tai họa sinh, thuận vi thì bệnh tật chẳng khởi, gọi là đắc đạo.” Theo từng mùa khác nhau, sử dụng phương pháp dưỡng sinh mùa xuân, dưỡng trưởng mùa hè, dưỡng thu mùa thu, dưỡng tàng mùa đông, cũng như dưỡng dương mùa xuân – mùa hè, dưỡng âm mùa thu – mùa đông, tức là dùng quy luật tự nhiên để dưỡng sinh tự nhiên, đạt được sự thống nhất toàn diện giữa con người và tự nhiên. Quan niệm phòng bệnh “Thánh nhân không trị bệnh đã xảy ra mà trị bệnh chưa xảy ra, không trị loạn đã xảy ra mà trị loạn chưa xảy ra. Khi bệnh đã thành mới dùng thuốc, khi loạn đã thành mới trị, giống như khi đói mới đào giếng, khi chiến tranh mới đúc giáo, chẳng phải quá muộn sao!” Đề xuất tư tưởng phòng bệnh trước khi bệnh xảy ra. “Tà phong hư khí, tránh kịp thời; yên lặng, vô vọng, chân khí theo đó; tinh thần nội thủ, bệnh từ đâu đến?” Tránh tà khí bên ngoài, tránh kích thích tinh thần, thay đổi cảm xúc, để đạt được mục tiêu phòng bệnh trước khi bệnh xảy ra. Quan niệm ý chí “Ý chí là thu phục hồn phách, điều hòa lạnh nóng, điều hòa vui buồn.” Phát huy vai trò ý chí con người kết hợp với đặc điểm mùa vụ, điều dưỡng tinh thần ý chí. “Xuân tam nguyệt, thử vị phát trần, để cho ý chí sinh ra”; “Hạ tam nguyệt, thử vị phồn tú, để cho ý chí không tức giận”; “Thu tam nguyệt, thử vị dung bình, để cho ý chí an định”; “Đông tam nguyệt, thử vị bế tàng, để cho ý chí như ẩn như trốn.” Tóm lại, tinh thần ý chí con người, mùa xuân nên phóng khoáng, mùa hè nên đầy đủ, mùa thu nên an ổn, mùa đông nên ẩn tàng, từ đó duy trì “thân không đau lạ, vạn vật không mất, sinh khí không cạn, tinh thần chuyên nhất, hồn phách không tan, hối hận, tức giận không khởi, ngũ tạng không bị tà khí xâm nhập.” Quan niệm tinh khí “Thích dục vô cùng, ưu hoạn không ngừng, tinh khí xả bại, vinh khí khô héo, nên thần rời đi, bệnh chẳng khỏi.” Sự盛 suy của tinh khí quyết định quá trình sinh trưởng và lão hóa của cơ thể, đồng thời là nguồn lực kháng bệnh. Vì vậy, dưỡng sinh phải thận trọng trong phòng dục, tích lũy tinh khí, toàn vẹn tinh thần. Quan niệm vận động – tĩnh lặng “Có thể vận động, có thể tĩnh lặng, giải thoát để sống lâu.” Đề xướng dưỡng hình, dưỡng thần song song. Theo từng mùa khác nhau, dưỡng hình điều thần. Xuân “đêm ngủ sớm, dậy sớm, đi bộ rộng rãi trong sân”; Hạ “đêm ngủ sớm, dậy sớm, không ghét ánh nắng”; Thu “ngủ sớm, dậy sớm, cùng gà thức dậy”; Đông “ngủ sớm, dậy muộn, nhất định phải chờ ánh sáng mặt trời”. Quan niệm thực dưỡng Dân chúng lấy ăn làm gốc. Đề xướng “ăn uống điều độ”, bảo vệ nguồn gốc hậu thiên – tỳ vị. Ví dụ: “Ăn uống quá mức, tỳ vị tổn thương”, tổn thương thì nguồn hóa sinh không đủ, dễ sinh trăm bệnh. Đồng thời khuyên nhủ người dân thận trọng điều hòa năm vị, tránh mê hoặc. “Dược độc trị tà, ngũ cốc dưỡng, ngũ quả trợ, ngũ thú ích, ngũ rau bổ. Mùi vị hợp nhau dùng, để bổ tinh khí.” “Vì vậy, thận trọng điều hòa năm vị, xương khớp sẽ thẳng, gân cốt mềm mại, khí huyết lưu thông, da dẻ kín đáo. Như vậy thì tinh khí xương chắc, tuân theo quy tắc đúng đắn, sống lâu như trời ban.”
|