Ngôn ngữ: 简体中文 | 繁體中文 | 日本語 | 한국어 | Tiếng Việt | ภาษาไทย | Bahasa Indonesia | Bahasa Melayu | Filipino
|
| Trang Chủ → Phương Thuốc Dân Gian → Danh Phương Thảo Dược | Đánh dấu trang |
Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:
| Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc | ||||
| Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác | ||||
| Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền / Chẩn trị theo chứng bệnh phổi tổn thương do xạ trị | Bài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp |
Chẩn trị theo chứng bệnh phổi tổn thương do xạ trị | |
Phổi tổn thương do xạ trị là thay đổi tổn thương do xạ trị ở phổi, là biến chứng khá phổ biến sau khi điều trị xạ trị cho các khối u ác tính ở ngực như ung thư phổi, u lympho trung thất, ung thư thực quản, v.v., thường do chiếu xạ liều cao, diện rộng gây ra, thay đổi bệnh lý ban đầu chủ yếu là tràn dịch, giai đoạn muộn chủ yếu là xơ hóa. Việc điều trị phổi tổn thương do xạ trị thường dùng thuốc corticosteroid kết hợp kháng sinh, mặc dù có hiệu quả nhất định, nhưng điều trị bằng steroid dễ dẫn đến tái phát khối u và một số biến chứng, do đó việc tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả, ít tác dụng phụ là rất cấp thiết.Cao Bình, trưởng khoa huyết học và ung thư tại bệnh viện phụ thuộc Trường Đại học Y học cổ truyền Hà Nam, nhiều năm qua điều trị phổi tổn thương do xạ trị bằng Đông y theo chứng, hiệu quả tương đương với điều trị bằng steroid, đồng thời tránh được tác dụng phụ.Cao chủ nhiệm phân tích nguyên nhân và cơ chế bệnh lý phổi tổn thương do xạ trị cho rằng, phổi là một tạng phủ nhạy cảm với tia xạ, tổ chức phổi bình thường cũng bị tổn thương trong điều trị xạ trị ngực. Tia xạ trực tiếp tổn thương tế bào biểu mô phế nang và tế bào nội mô mao mạch, khiến mao mạch sung huyết, phù nề, gây phù phổi, kế đó là hoại tử mao mạch và khí quản nhỏ, dần dần xuất hiện xơ hóa phổi và cứng phổi. Y học cổ truyền cho rằng tia xạ là một yếu tố sát thương có tính độc nhiệt, thuộc tà nhiệt độc, nhiệt có thể hóa hỏa, đốt cháy phổi, tiêu hao âm dịch. Bệnh nhân ung thư chính khí suy yếu, đàm ứ nội kết. Điều trị xạ trị khiến nhiệt tà tổn thương âm, chính khí không thắng tà, tà nhiệt độc với đàm ứ tương kết, tiêu hao âm phổi, đốt cháy kinh mạch phổi, ảnh hưởng đến chức năng tuyên phát và tản giáng của phổi, gây ra các triệu chứng hô hấp như ho, thở gấp, khó thở, thậm chí tím tái. Bệnh này thuộc loại hư bản thực biểu, âm thương, khí hư, huyết ứ, nhiệt độc là cơ chế bệnh lý cơ bản, điều trị theo từng giai đoạn lấy dưỡng âm, ích khí, hóa ứ, giải độc làm phương pháp.Cao chủ nhiệm trong lâm sàng dựa vào biểu hiện bệnh nhân để điều trị theo chứng, thường chia thành ba thể sau:Một, Âm thương phế táo: Thường gặp sau 1–3 tháng xạ trị, biểu hiện chính là ho kích thích, khô không đàm hoặc đàm ít, đau họng, miệng khô, thích uống nước lạnh, ngực đầy, tâm phiền, hoặc kèm sốt nhẹ, ăn kém, lưỡi đỏ ít lớp, thiếu nước, mạch tế số. Điều trị dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận phế sinh tân, dùng Tham mộc thang, Thanh táo cứu phế thang gia giảm, thường dùng các vị thuốc: Mạch đông, nhân sâm, bán hạ, a giao, hồ ma nhân, thạch cao, mộc qua, trúc nhự, trúc diệp, thiên hoa phấn, tri mẫu, xuyên bối, sâm tham, ngọc trúc, ngân sài hồ, bách hợp, bạch vi, v.v.Hai, Phế tỳ khí hư kèm huyết ứ: Bệnh nhân thể chất tỳ hư, thêm tổn thương do xạ trị, bệnh kéo dài, ho tái phát, đàm dính hoặc đặc, màu trắng hoặc xám, sáng sớm ho nhiều, thường kèm đầy bụng, ăn kém, buồn nôn, mệt mỏi, lười vận động, đại tiện lỏng, tiểu nhiều, lưỡi tím thẫm, lớp lưỡi trắng dính hoặc vàng dính, mạch nhu trượt hoặc trượt tế. Điều trị bổ phế kiện tỳ, trừ thấp hóa ứ, dùng Thanh táo thang hợp nhị trần thang gia giảm, thường dùng các vị thuốc: Nhân sâm, hoàng kỳ, phục linh, trần bì, pháp bán hạ, bạch truật, tương thuật, xuyên bối, bát nguyệt trạch, hồng hoa, tô mộc, thủ phụ, lộ phong phòng, v.v.Ba, Nhiệt độc thịnh, đàm nhiệt uất phế: Sau xạ trị, tính thấm của mạch máu tăng, phù nề kẽ phế nang, dễ kèm nhiễm trùng phổi, khiến nhiệt độc và đàm hỏa nội uất. Thường biểu hiện là sợ lạnh, sốt, ho nhiều, đàm dính đặc hoặc vàng đặc, khạc không dễ, ho nặng đau ngực hoặc khạc máu, miệng khô, muốn uống nước, lưỡi đỏ, lớp lưỡi mỏng vàng hoặc vàng dính, mạch trượt số. Điều trị thanh nhiệt giải độc, thanh phế hóa đàm, dùng Thanh kim hóa đàm thang, Thiên kim uất kinh thang gia giảm, thường dùng các vị thuốc: Tang bạch bì, hoàng cầm, sơn chi tử, tri mẫu, ngư tinh thảo, nhị hoa, liên kiều, hồng đằng, ý dĩ nhân, đông quan tử, bối mẫu, khoa lâu, cụt cương, la căn, thạch hộc, v.v.Đã từng điều trị một bệnh nhân nữ hơn 60 tuổi, do ung thư tuyến sữa bên phải đã phẫu thuật triệt căn, sau đó điều trị xạ trị 3 tháng, xuất hiện ho kích thích, nặng hơn vào ban đêm, không đàm, miệng khô, đau họng, ngực đầy, đau ngực, năm bàn tay bàn chân nóng, dễ nổi nóng, sốt nhẹ buổi chiều, nhiệt độ 37,5°C, ăn kém, lưỡi đỏ ít lớp, mạch tế số. Đã dùng penicillin kết hợp dexamethasone điều trị 3 ngày, do bệnh nhân tăng đường huyết nên chuyển sang điều trị bằng Đông y. Chẩn đoán Đông y là tổn thương âm tân, phế không được dưỡng, dùng Tham mộc thang gia giảm: Nam sâm, bắc sâm mỗi thứ 30g, mạch đông 15g, sinh địa 20g, nguyên sâm 15g, ngọc trúc 15g, bách hợp 30g, tang bạch bì 15g, công lao diệp 20g, ngân sài hồ, bạch thạch mỗi thứ 10g, thanh hao 30g, cam thảo 6g. Mỗi ngày 1 thang, chia 2 lần uống ấm. Sau 5 ngày uống thuốc, ho giảm, triệu chứng phiền nhiệt cải thiện, bỏ thanh hao, ngân sài hồ, thêm các vị thuốc hoạt huyết hóa ứ như thủ phụ, hồng hoa, lộ phong phòng mỗi thứ 15g, để cải thiện thay đổi tổ chức xơ hóa phổi sau xạ trị, mỗi ngày 1 thang sắc uống, dùng thuốc nửa tháng triệu chứng dần thuyên giảm, sau đó kiên trì điều trị Đông y theo chứng, đồng thời thực hiện hóa trị sau phẫu thuật thông thường, hiện tình trạng bệnh ổn định. | |
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi
Email: [email protected]