Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền / Thảo luận kinh nghiệm điều trị viêm gan do virus bằng Đông yBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Thảo luận kinh nghiệm điều trị viêm gan do virus bằng Đông y

Viêm gan do virus là một thách thức y học toàn cầu, nguyên nhân, cơ chế bệnh lý và triệu chứng phức tạp, thay đổi đa dạng, khó tìm nguyên nhân, điều trị khó khỏi, gây hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người.Để vượt qua thách thức này, trải qua hơn 30 năm thực tiễn lâm sàng, kiên trì khám phá, nghiên cứu tận tụy, tôi đã tổng kết một hệ thống lý luận khá hoàn thiện, và xây dựng phương thuốc hiệu quả cao điều trị viêm gan B – “Khóa Viêm Gan B Trần Thị Linh Viên”.Theo kinh nghiệm lâm sàng và phân tích triệu chứng nhiều năm, tôi cho rằng viêm gan B thuộc phạm vi các chứng như gan uất, sườn đau, hoàng đản, ôn dịch, tích tụ trong y học cổ truyền, biểu hiện lâm sàng chính là mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng, đau sườn, hoàng đản. Viêm gan do virus, nguyên nhân chính là “độc”, cơ chế bệnh lý cơ bản là “ứ trệ”, lây lan qua đường truyền nhiễm, tổng thể cơ chế bệnh lý là tà độc ẩm nhiệt ẩn ở tỳ vị, trung tiêu ứ trệ, ẩm ứ hóa hỏa, tiêu hao âm dịch trong cơ thể, dẫn đến âm hư gan thận, do đó nền tảng bệnh lý là rối loạn âm dương của gan, tỳ, thận, tà khí ứ đọng, ẩm nhiệt kìm hãm khí trệ huyết ứ.Nguyên tắc điều trị lấy giải độc hành khí hóa ứ làm chủ, kết hợp với diễn biến bệnh lý để điều trị theo chứng, đồng thời tăng cường chức năng miễn dịch cơ thể, ức chế virus, cải thiện tuần hoàn máu gan, chống xơ gan, thúc đẩy phục hồi tế bào gan, phương pháp điều trị lấy dưỡng gan, nhu gan, thư gan, lý khí hóa ứ bồi chính, thanh nhiệt lợi thấp giải độc.Phương thuốc: Phương thuốc kinh nghiệm tự lập “Khóa Viêm Gan B Trần Thị Linh Viên” điều trị viêm gan do virus hiệu quả rõ rệt, giúp các triệu chứng lâm sàng và phản ứng dương tính xét nghiệm dần biến mất, đạt mục tiêu hồi phục. Đây là thuốc Đông y trị bản, chữa tận gốc virus viêm gan B, mang lại lợi ích xã hội và kinh tế lớn lao cho nhân loại.Chức năng sinh lý của ganTheo kinh: “Đông phương sinh phong, phong sinh mộc, mộc sinh tân, tân sinh can, can tương ứng với mùa xuân, dương khí phát động, âm ứng theo, theo đó sinh gió; mùa xuân sinh ra, ngũ hành là mộc, vị mộc là tân, người mang theo đó sinh ra gan. Gan chủ phát sinh, gan có chức năng điều tiết lượng máu, kinh mạch của nó đi lên đỉnh đầu, kết nối não. Khi chức năng gan bình thường, giống như cây cối mùa xuân, mềm mại, trôi chảy, đầy sinh lực. Gan thể âm mà dụng dương, ‘thể’ thường chỉ thực thể hoặc chất, ‘dụng’ là chức năng và hoạt động, gan là cơ quan chứa máu, máu là âm, nên thể gan là âm. Gan chủ thư tiết, nội tàng tướng hỏa, là cơ quan phong mộc, dễ động phong hóa hỏa. Gan còn chủ vận động của gân, những chức năng này và tình trạng bệnh lý, phân tích theo quan điểm âm dương, thiên về động, thiên về nhiệt là dương, do đó có thuyết “gan thể âm mà dụng dương”. Gan là cơ quan cương, gan thích thư giãn, thoải mái, ghét ức chế, cũng không chấp nhận quá cường. Đặc tính cương của gan chủ yếu thể hiện ở khí gan, khi bị kích thích tinh thần, dễ trở nên nóng giận, gọi là khí gan quá mạnh, ngược lại nếu khí gan yếu sẽ khiến người ta dễ sợ hãi. Sự cương của gan thường cần phối hợp với mật mới thể hiện được. Đường Dung Xuyên nói: “Gan chứa máu, máu sinh từ tim, xuống bào trung là biển máu, mọi máu trong cơ thể đều nhìn vào biển máu để điều chỉnh, nếu biển máu không bị xáo trộn thì máu khắp cơ thể đều an ổn, kinh gan chủ phần này, nên gan chủ chứa máu.” Gan là cơ quan chứa máu, lại chủ phong mộc, mật tàng tướng hỏa, liên kết với gan, biết rõ gan mật hai kinh có máu và lửa rõ ràng. Máu do hỏa tâm biến hóa sinh ra, lửa từ trời dương chiếu vào gỗ thì sáng. Con người tinh thần, tinh khí huyết bình hòa, không sinh giận dữ, là do gan mộc không uất, mật hỏa không quá cường, do đó điều huyết phải trước tiên điều khí, dập lửa mà đặc biệt là hòa huyết, huyết được hòa thì khí được lưu thông. Nếu huyết bị tà khí xâm nhập thì bị đốt cháy, kết tụ. Do đó, mạch máu lưu thông không ứ trệ, tiềm ẩn không động, toàn nhờ huyết khí gan mật bình hòa. Nếu mộc uất thành hỏa, huyết không hòa, lửa phát thành giận, huyết sẽ tràn ra: trên là nôn máu, chảy máu cam, dưới là đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, v.v. Đường Dung Xuyên nói: “Gan có uất hỏa, ngực sườn đau như dao cắt,” minh chứng huyết bị nhiệt tà có thể làm gan mật mất hài hòa. Tổng hợp các chức năng chính của gan:① Chủ thư tiết: Thư tiết nghĩa là thông suốt, phóng thích, chỉ chức năng thông suốt, phóng thích của gan, xưa người ta dùng hình ảnh khí mộc phát sinh, mềm mại, trôi chảy để hình dung chức năng thư tiết bình thường của gan, do đó thư tiết đại diện trạng thái sinh lý mềm mại, thoải mái của gan, tức là không ức chế, cũng không quá cường. Chức năng thư tiết của gan chủ yếu liên quan đến điều hòa khí cơ, “khí cơ” nói chung là vận động thay đổi của khí, liên quan đến hoạt động chức năng của các tạng phủ trong cơ thể. Nếu gan mất thư tiết, khí cơ không điều hòa sẽ gây ra thay đổi bất thường về tình cảm, biểu hiện là ức chế hoặc quá cường, ngược lại tình cảm bất thường cũng có thể gây bệnh khí cơ uất trệ, khí cơ không điều hòa. Do đó gan thích thư giãn mà ghét ức chế, ghét giận dữ quá mức.② Chức năng thư tiết của gan không chỉ điều hòa khí cơ, hỗ trợ vận chuyển khí vị, tiết dịch mật, nếu gan mất thư tiết sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa của vị, tiết dịch mật, gây ra rối loạn tiêu hóa, khí gan xâm nhập vị gây đầy bụng, không muốn ăn. Gan thư tiết bình thường còn có tác dụng thông lợi tam tiêu, thông suốt đường nước. Gan mất thư tiết, khí cơ không điều hòa, huyết ứ trệ, kinh mạch bất lợi, dẫn đến nước không lưu thông, gây ra bụng đầy nước.③ Gan chủ chứa máu: Gan có chức năng chứa máu và điều tiết lượng máu, nếu gan huyết không đủ sẽ gây ra nhiều bệnh lý, vận hành máu gan cũng dựa vào khí cơ thư tiết điều hòa, nếu thư tiết không điều hòa sẽ gây khí trệ ứ trệ.Cơ chế bệnh lý viêm gan BViêm gan do virus chủ yếu do virus, đường lây truyền là truyền nhiễm, từ phân tích nguyên nhân cũng không rời khỏi nguyên nhân ngoại và nội. Nguyên nhân ngoại thường do cảm thụ thời tà, dịch lệ, ăn uống không điều độ, nguyên nhân nội thường do chính khí yếu, tổn thương tình chí dẫn đến rối loạn âm dương, khí cơ không điều hòa. Hai nguyên nhân ngoại và nội lại tương hỗ, liên hệ chặt chẽ, diễn biến bệnh lý cũng phức tạp.Một, Thời tà ngoại xâmDo khí hậu tự nhiên thay đổi bất thường, xuất hiện nắng nóng, sương mù, khí độc, ẩm thấp không hóa, môi trường xấu, ăn uống không sạch sẽ, cùng với dịch độc, cơ thể cảm thụ tà ngoại từ biểu vào lý, hoặc trực tiếp xâm nhập vào lý, ứ đọng không phát, kìm hãm trung tiêu, chức năng vận hóa tỳ vị suy giảm, khiến gan mất thư tiết, khí cơ không điều hòa, thăng giáng thất thường, dịch mật ngoại xuất, xâm nhập da thịt, lên nhiễm mắt, xuống lưu tiểu tiện, gây ra da vàng, mắt vàng, tiểu tiện vàng.Hai, Tổn thương do ăn uống, lao lực:Thể chất vốn yếu tỳ vị hoặc chính khí suy yếu, lao lực quá độ hoặc sau bệnh tỳ dương tổn thương, dịch dịch không được vận hóa, phân bố, nguồn sinh hóa hậu thiên không đủ, ăn uống vô độ, no đói thất thường, hoặc nghiện rượu, ăn nhiều đồ béo ngọt tổn thương tỳ vị, tỳ không kiện vận, không thể hóa sinh, phân bố tinh vi thực vật, ngược lại sinh ra ẩm thấp kìm hãm, khí cơ uất mà hóa nhiệt, đốt nóng gan mật, dẫn đến âm hư gan huyết hoặc gan mất thư tiết.Ba, Ôn dịchBệnh ôn dịch không phải là phong, không phải là hàn, không phải là thử, không phải là thấp, mà là một loại khí dị biệt trong trời đất, “lợi khí” lây truyền qua không khí và tiếp xúc, xâm nhập qua miệng và mũi.Bốn, Gan khí uất kết:Gan là quan tướng quân, chủ thư tiết, tính thích thư giãn, ghét ức chế, nếu tình chí ức chế, hoặc giận dữ quá mức tổn thương gan, dẫn đến khí cơ uất kết, uất mà hóa hỏa, hỏa gan cường, hỏa mật lan tràn, hỏa gan thượng di, dương tà cường, nhiễu loạn thần kinh, tà hỏa dễ dàng bức ra dịch thể, tiêu hao âm dịch, dẫn đến gân mạch không được dưỡng, phong nội động. Khí là quân của huyết, huyết là mẹ của khí, khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ. Nếu gan không thư giãn, khí uất lâu ngày, hoặc gắng sức nặng nề tổn thương kinh lạc sườn, bên trong có thể dẫn đến vận hành khí huyết không thuận, huyết ứ lưu lại, tắc nghẽn kinh lạc sườn, gây đau sườn, đầy bụng, bụng đầy nước.Nhận thức về chẩn trị viêm gan do virusViêm gan do virus, nguyên nhân chính là “độc”, cơ chế bệnh lý cơ bản là “ứ trệ”.Y học cổ truyền cho rằng viêm gan cấp tính thường biểu hiện hoàng đản, mà hoàng đản thường do thấp nhiệt nội tàng. Viêm gan A thường là nhiệt nặng hơn thấp, viêm gan B so với viêm gan A thì thời gian bệnh dài hơn, bệnh kéo dài khó khỏi, do đó thường là thấp nặng hơn nhiệt. Tuy nhiên, viêm gan cấp tính có tính truyền nhiễm, do đó không thể giải thích bằng thấp nhiệt thông thường, mà phải dùng khái niệm “dịch độc” mới có thể nhận thức và làm rõ bản chất của viêm gan cấp tính, tức là nguyên nhân của viêm gan cấp tính phải lấy độc tà làm chủ, loại độc tà này thường thuộc tính chất thấp nhiệt, do đó thấp nhiệt độc tà là nguyên nhân cơ bản của viêm gan cấp tính. Thấp nhiệt độc tà cùng xâm nhập, ứ trệ khí huyết, biểu hiện là hoàng đản, đau sườn, gan to, v.v. Sau giai đoạn cấp tính, mặc dù chứng thấp nhiệt đã giảm, nhưng độc tà vẫn còn lưu lại, chưa được loại bỏ triệt để, khí cơ vẫn không thông suốt, huyết hành vẫn không lưu thông, ứ trệ lâu ngày, khí huyết suy kiệt, gan không được nuôi dưỡng, biến thành viêm gan mạn tính. Viêm gan mạn tính là viêm gan dai dẳng, dần dần phát triển thành tích tụ, phình to, gan trệ, gan tuyệt, ung thư gan, v.v.Do độc tà xâm nhập, có thể xuất hiện hôn mê.Biến chuyển cơ chế bệnh lý viêm gan do virusTổng thể là tà độc ẩm nhiệt ẩn ở tỳ vị, trung tiêu ứ trệ, ẩm ứ hóa hỏa, tiêu hao âm dịch trong cơ thể, dẫn đến âm hư gan thận, do đó nền tảng bệnh lý là rối loạn âm dương gan, tỳ, thận, tà khí ứ đọng, ẩm nhiệt kìm hãm, khí trệ huyết ứ. Người mang virus viêm gan mạn tính ở trạng thái mang virus liên tục, chủ yếu do chính khí suy yếu, âm hư gan, lại thêm độc tà nội xâm lưu lại, tiêu hao khí huyết, dẫn đến dương hư tỳ thận, khí âm đều suy, dương hư gan, độc tà tiềm tàng. Do đó bệnh gan có cả chứng hư và chứng thực, chứng hư thường thấy như huyết hư gan, âm hư gan, dương hư gan, chứng thực là khí hỏa dư thừa, hoặc do tà thấp nhiệt xâm nhập, hoặc chứng phong dương nội động, thượng nhiễu, thuộc loại hư bản thực biểu.Đối với điều trị viêm gan do virus, tôi cho rằng: vì nguyên nhân bệnh là “độc” làm chủ, “ứ trệ” là cơ chế bệnh lý cơ bản, nên điều trị tự nhiên lấy giải độc và hành khí hóa ứ làm phương pháp chính, kết hợp với diễn biến bệnh lý và điều trị theo chứng, chủ chứng. Trong lâm sàng, kết hợp tăng cường chức năng miễn dịch, tăng cường khả năng miễn dịch, ức chế virus, cải thiện tuần hoàn máu gan, chống xơ gan, thúc đẩy phục hồi tế bào gan, cải thiện chức năng gan, cuối cùng đạt được mục tiêu tăng cường chức năng miễn dịch cơ thể, loại bỏ virus. Tổng kết lại, điều trị viêm gan B bằng Đông y, căn cứ vào chức năng và bản chất gan, cũng như cơ chế biến chuyển bệnh lý do độc tà xâm nhập, nguyên tắc điều trị lấy dưỡng gan, nhu gan, thư gan, lý khí hóa ứ, bồi chính, thanh nhiệt lợi thấp giải độc làm chủ.Chẩn trị theo chứngMột, Độc tà xâm nhập:Triệu chứng: Độc tà xâm nhập, da thịt nóng, tứ chi mỏi mệt, ngực sườn đầy, lặng lẽ không muốn ăn, miệng đắng, họng khô, mắt choáng, mạch huyền, lưỡi nhạt.Pháp điều trị: Thông đạt tà nhiệt ở mộ nguyên.Phương thuốc: Đạt nguyên ẩm.Giải thích phương: Lương bản, thảo quả nhân thông đạt tà nhiệt ở mộ nguyên; Hoàng cầm, tri mẫu thanh tả nhiệt ở thượng tiêu; Sắc hồ thư giải thiếu dương, thông đạt nhiệt ở thiếu dương; Bạch thược, cam thảo giảm đau, dịu cơ, nhu gan; Xuyên bối tiêu trướng trừ đầy.Hai, Thấp nhiệt trung tổ:Triệu chứng: Ngực đầy, bụng đầy, ợ chua, chán ăn, da mắt vàng, mặt sáng bóng, miệng dính, miệng đắng, tiểu vàng, lưỡi vàng dính, mạch huyền số.Phương thuốc: Long đản tả can thang, Nhân trần sào thang.Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp.Giải thích phương: Cẩu thảo tả thấp nhiệt ở can mật là quân; Chi tử, hoàng cầm thanh nhiệt trừ thấp là thần; Mộc thông, xe tiền, trạch tả, thải thấp nhiệt; Sinh địa, đương quy, sắc hồ thanh nhiệt dưỡng huyết thư gan; Cam thảo điều hòa các vị thuốc là sứ; Nhân trần lợi thấp thải hoàng.Ba, Gan khí uất, tỳ hư:Triệu chứng: Ngực sườn đầy đau, ngực khó chịu, thở dài, bụng đầy, tinh thần u ám, ăn ít, miệng nhạt, mệt mỏi, yếu ớt, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, mép răng in, lưỡi mỏng, mạch trầm huyền.Pháp điều trị: Thư gan lý khí, kiện tỳ.Phương thuốc: Tiêu dao thang.Giải thích phương: Sắc hồ thư gan giải uất; Bạch thược, cam thảo giảm đau, dịu cơ, nhu gan; Đương quy bổ huyết; Bạch truật, phục linh kiện tỳ lợi thấp; Bạc hà giải biểu thông cơ.Bốn, Can thận âm hư:Triệu chứng: Đau sườn âm ỉ, nặng khi vận động, lưng sườn mỏi, chóng mặt, mắt choáng, họng khô, ngủ không yên, mơ nhiều, năm bàn tay bàn chân nóng, thể hình gầy, chảy máu nướu răng, lưỡi đỏ ít nước, mạch tế số yếu.Pháp điều trị: Dưỡng can thận.Phương thuốc: Nhất quán giản.Giải thích phương: Sinh địa, kỷ tử dưỡng can thận; Sa sâm, mạch đông, đương quy dưỡng âm nhu gan; Xuyên luyện tử thư gan lý khí giảm đau.Năm, Can tỳ thận dương hư:Triệu chứng: Cảm lạnh, thích ấm, tứ chi không ấm, tinh thần mệt mỏi, đau lạnh ở bụng dưới, lưng, gối, ăn ít, đại tiện lỏng, phù chân, âm đạo ẩm lạnh hoặc liệt dương, lưỡi nhạt to, mép răng in, lưỡi trắng, mạch trầm tế hoặc trầm trì.Pháp điều trị: Dưỡng huyết tán hàn, bổ dương.Phương thuốc: Nhiệt can giản, đương qui tứ nghịch thang.Giải thích phương: Gừng vị cay ấm, tán hàn; Đương qui, bạch thược bổ huyết hòa huyết; Quế chi vào can, đi vào huyết phận, tăng sinh khí; Phụ tử ôn thận trợ dương.Sáu, Huyết ứ tắc lạc:Triệu chứng: Da mặt xỉn, hoặc thấy các vết đỏ như mạng nhện, đau sườn châm, gan lách to, chất cứng, hoặc thấy nốt ruồi nhện, gan bàn tay, lưỡi tối hoặc có vết bầm, mạch tế huyền.Pháp điều trị: Khử ứ thông lạc.Phương thuốc: Huyền phục hoa thang.Giải thích phương: Tía tô hoạt huyết thông lạc; Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Huyền phục hoa thư gan giải uất, lý khí giảm đau; Tỏi trắng ôn thông kinh lạc, tán kết; Song hoa, liên sáo, công anh, địa đinh, thanh nhiệt giải độc tiêu sưng; Đương qui, bạch thược bổ huyết dưỡng gan, bồi chính.Tổng kết: Sau hơn 30 năm thực tiễn lâm sàng, nghiên cứu tận tụy, tôi tự lập ra phương thuốc kinh nghiệm hiệu quả cao điều trị viêm gan B – “Khóa Viêm Gan B Trần Thị Linh Viên”Điều trị viêm gan B giúp các triệu chứng lâm sàng và phản ứng dương tính xét nghiệm dần biến mất, đạt mục tiêu hồi phục, là thuốc Đông y chữa tận gốc virus viêm gan B, mang lại lợi ích xã hội và kinh tế lớn lao cho nhân loại.Phó giáo sư: Trần HoaĐịa chỉ: Trụ sở bác sĩ Đông y cũ tại khu dân cư Nghiên Kinh, quận Lộ Nam, thành phố Đường Sơn, tỉnh Hà BắcĐiện thoại: 0315—2220343, điện thoại nhà: 0315—2565993

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]