Nghiên cứu y học cổ truyền Trung Hoa về bệnh lupus ban đỏ – Phần hai: Nghiên cứu cơ chế bệnh sinh của bệnh lupus ban đỏ chủ yếu là những người có yếu tố di truyền lupus ban đỏ, khi chịu tác động của các yếu tố như nhiễm trùng, yếu tố vật lý (như tia cực tím,...), một số thuốc,... sẽ làm rối loạn chức năng ổn định miễn dịch của cơ thể, dẫn đến hình thành lượng lớn kháng thể tự thân. Tác động trực tiếp của kháng thể hoặc tác động của phức hợp miễn dịch gây ra phù nhầy của tổ chức liên kết, biến tính dạng sợi protein, viêm mạch hoại tử, dẫn đến tổn thương đa cơ quan, đa hệ thống. Nhận thức của y học cổ truyền Trung Hoa về cơ chế bệnh sinh của bệnh này là mỗi người có một quan điểm riêng. Tôi dựa trên tổng kết lý thuyết của các thầy thuốc, kết hợp với hơn mười năm nghiên cứu lâm sàng, cho rằng dù bệnh này phức tạp và đa dạng, nhưng vẫn có quy luật rõ ràng, cơ chế bệnh sinh có thể khái quát là "một bản – một tiêu – năm bế". "Một bản" là thể chất hư, ngũ tạng suy yếu; "một tiêu" là sản phẩm chuyển hóa ứ trệ tam tiêu; "năm bế" là khí huyết kinh mạch vận hành không thông suốt, ảnh hưởng đến các hệ thống, các tạng khác nhau, tạo ra các biến số khác nhau, hình thành "phế bế", "tâm bế", "tỳ bế", "can bế", "thận bế" v.v. 1. Thể chất hư, ngũ tạng suy yếu Bệnh lupus ban đỏ có tỷ lệ mắc bệnh khác nhau ở các chủng tộc khác nhau, có xu hướng di truyền nhất định. Những người có yếu tố di truyền lupus ban đỏ được gọi là người có yếu tố di truyền lupus ban đỏ. Y học cổ truyền Trung Hoa cho rằng bệnh nhân mắc bệnh này thể chất hư, ngũ tạng suy yếu. "Thể chất" là đặc điểm thể trạng của một người, thể trạng quyết định tính dễ cảm với yếu tố gây bệnh và xu hướng chứng bệnh. Yếu tố thể chất này của bệnh lupus ban đỏ chủ yếu do cha mẹ truyền lại, ví dụ như cha mẹ thể chất yếu, thai khí không đủ, hoặc thai nhi không được nuôi dưỡng đầy đủ, sinh nở bị tổn thương, dẫn đến ngũ tạng không khỏe, khí huyết thiếu, sinh cơ không mạnh, từ đó có cơ hội mắc bệnh này. Do ăn uống không điều độ, sinh hoạt thất thường, hoặc làm việc quá sức, tổn thương tình cảm nội tâm, hoặc tổn thương khí huyết do mang thai sinh nở, dẫn đến tổn thương ngũ tạng. Người ăn uống không điều độ bao gồm ăn uống quá mức, đói kéo dài, ăn uống một cách thiên lệch, làm tổn thương tỳ vị, chức năng tỳ vị suy giảm, ngũ tạng không có nguồn dinh dưỡng, dẫn đến ngũ tạng đều suy yếu; người tổn thương ngũ tạng do tình cảm: y học cổ truyền nói "giận tổn can", "vui tổn tâm", "tư tổn tỳ", "ưu tổn phế", "sợ tổn thận"; người tổn thương ngũ tạng do làm việc quá sức, đặc biệt là làm việc trí óc tổn thương nội tạng, y học cổ truyền cho rằng "quyết vận thần cơ thì tổn tâm", "tận tâm mưu tính thì tổn can", "ngoại ý quá suy nghĩ thì tổn tỳ", "gặp việc lo âu thì tổn phế", "sắc dục quá độ thì tổn thận". Ban đầu có thể là tổn thương một tạng, thông qua quan hệ sinh khắc của ngũ tạng, dần lan sang các tạng khác, hình thành thể chất dễ mắc bệnh lupus ban đỏ. Trên nền thể chất này (tương đương người có yếu tố lupus ban đỏ) cộng thêm ngoại tà lục dâm (đặc biệt là virus), nội thương thất tình (ảnh hưởng từ yếu tố tinh thần xã hội), thuốc độc, ánh nắng độc, dẫn đến bệnh lupus ban đỏ. 2. Đàm ứ nội kết, tam tiêu tắc nghẽn Tam tiêu trong cơ thể không giống các tạng khác, không phải là một khái niệm cơ quan độc lập, mà là tổng hợp chức năng, là cách chia cơ thể thành thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu trong y học cổ truyền. Vương Hảo Cổ cho rằng vùng đầu đến tim là thượng tiêu, vùng tim đến rốn là trung tiêu, vùng rốn đến bàn chân là hạ tiêu. Trương Cảnh Nguyệt cho rằng ranh giới là mặt phẳng ngang của màng tràng vị, phần trên màng tràng vị là thượng tiêu, phần từ màng tràng vị đến rốn là trung tiêu, phần dưới mặt phẳng ngang của rốn là hạ tiêu. Thượng tiêu là nơi tim phổi ở, trung tiêu là nơi tỳ vị ở, hạ tiêu là nơi gan thận, bàng quang, ruột già ở. Về chức năng tam tiêu, chủ yếu là lưu thông nguyên khí, điều hòa khí cơ và vận hành nước, thông điều nước đạo. Biến đổi bệnh lý chính liên quan đến vận hành khí cơ và chuyển hóa nước. Do thể chất hư, ngũ tạng suy yếu, người dễ mắc bệnh, khi bị kích thích bởi một nguyên nhân nào đó, dẫn đến khởi phát bệnh lupus ban đỏ, tạo ra sản phẩm chuyển hóa bệnh lý trong cơ thể (kháng thể, phức hợp miễn dịch,...), như y học cổ truyền hiểu là ứ huyết, đàm ẩm, thủy thấp v.v. Tam tiêu là trung tâm vận hành khí cơ và điều hòa nước trong toàn cơ thể, nếu các tà khí có hình thức này tắc nghẽn tam tiêu, làm rối loạn chức năng vận chuyển khí cơ và điều hòa nước đạo, dẫn đến các triệu chứng phức tạp và đa dạng. Ví dụ, người bệnh lupus ban đỏ bị tắc nghẽn tam tiêu, khí cơ vận hành không thông suốt, vệ khí mất chức năng bảo vệ bên ngoài, do đó bệnh nhân thường hay cảm lạnh; tam tiêu tắc nghẽn, uất hỏa lan tràn, khiến bệnh nhân sốt cao không hạ, khí không vận hành máu, máu không đến tứ chi, hoặc tứ chi khí cơ bị tắc nghẽn, khí hóa mất chức năng, khí huyết dịch thể vận hành bị cản trở, không thể nuôi dưỡng ngũ tạng lục phủ, khiến ngũ tạng càng suy yếu, bệnh không khỏi. Chức năng vận hành nước của tam tiêu bị cản trở, nước ở thượng tiêu tích tụ thành tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng ngoài tim; nước ở trung tiêu tích tụ thành tràn dịch ổ bụng; nước ở hạ tiêu tích tụ, tiểu tiện khó, phù chân; nước ở tam tiêu lan tràn khắp cơ thể, dẫn đến tình trạng nặng nề toàn thân. 3. Khí huyết không thông, hình thành năm bế Bệnh lupus ban đỏ hệ thống gây tổn thương đa hệ thống, đa cơ quan, do tổn thương các cơ quan khác nhau mà triệu chứng phức tạp và đa dạng. Bệnh này tương đương với phạm vi "chu bế" trong y học cổ truyền. "Linh Khúc – Chu Bế" viết: "Chu bế là ở trong huyết mạch, theo mạch lên, theo mạch xuống, không thể trái phải, mỗi nơi đều có, xuất hiện ho, khạc đàm, khó thở, tức ngực, tương đương với viêm phổi lupus, viêm màng phổi lupus; tắc nghẽn trong mạch tim, hình thành 'tâm bế', xuất hiện tim đập nhanh, đau tim, tức ngực, tương đương với viêm cơ tim lupus, viêm màng ngoài tim lupus; tắc nghẽn trong mạch tỳ, hình thành 'tỳ bế', xuất hiện ăn kém, nôn mửa, tiêu chảy, giảm tế bào máu, mệt mỏi toàn thân, tương đương với tổn thương đường tiêu hóa lupus, tổn thương máu lupus; tắc nghẽn trong mạch can, hình thành 'can bế', xuất hiện đau sườn, vàng da, đau đầu, chóng mặt, co giật, rối loạn tâm thần, tương đương với viêm gan lupus, tổn thương thần kinh trung ương lupus; tắc nghẽn trong mạch thận, hình thành 'thận bế', xuất hiện tiểu ít, protein niệu, phù, tương đương với viêm thận lupus." Tóm lại, cơ chế bệnh sinh chính của bệnh lupus ban đỏ là thể chất hư, ngũ tạng suy yếu (bổ hư), đàm ứ nội sinh, tắc nghẽn tam tiêu (thực thực), khí huyết vận hành không thông suốt (năm bế), tổn thương các cơ quan mô toàn thân, hình thành triệu chứng phức tạp và đa dạng. Bệnh này có cả hư và thực, trong suốt quá trình bệnh, do mức độ hư suy âm dương tạng phủ khác nhau, trong các giai đoạn lâm sàng khác nhau có thể có sự khác biệt giữa tà nhiều hư ít, tà ít hư nhiều. Lâm sàng thường gặp các chứng như: đàm ứ tắc nghẽn, nhiệt độc thịnh mãn; can thận âm hư, hư nhiệt nội sinh; can thận dương hư, khí huyết bất túc; ngũ tạng đều hư, dư tà lưu lại. Trong quá trình biến đổi có thể xuất hiện năm bế. Trong điều trị nên điều trị theo chứng. Nhưng trong giai đoạn cấp tính nên ưu tiên trừ tà điều trị triệu chứng, trong giai đoạn ổn định nên ưu tiên bồi bổ chính khí điều trị căn nguyên, đồng thời thay đổi phương pháp điều trị theo đặc điểm năm bế để đạt hiệu quả tốt.
|