Bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành là loại phổ biến nhất trong các bệnh do xơ vữa động mạch gây ra. Trong hơn mười năm qua, các học giả trong nước đã tiến hành nghiên cứu hệ thống về bệnh này, tóm tắt như sau: 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Y học cổ truyền Trung Hoa cho rằng bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành xảy ra do tuổi già thể suy, chức năng ngũ tạng suy yếu, âm dương khí huyết mất cân bằng, cộng thêm ảnh hưởng của thất tình, lục dâm, dẫn đến khí trệ huyết ứ, dương khí tim bị tắc nghẽn, đàm thấp nội sinh, làm mạch tim bị tắc nghẽn gây bệnh. Mao thị cho rằng bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành là do tỳ thận dương hư, khí tim yếu, tỳ không được ấm, đàm thấp tụ kết. Lưu thị cho rằng khi phế khí hư, khí tim không đủ, vận hành máu không lưu thông, ứ trệ không thông thì đau tim. Lục thị cho rằng đau thắt ngực chủ yếu do can khí uất, đàm thấp trung chặn, hàn đình huyết trệ, mạch tim bị ứ trệ. Triệu thị cho rằng mọi lúc đều liên quan chặt chẽ đến ứ huyết. Nghiên cứu hiện đại cho thấy: người thường xuyên ăn đồ béo ngậy, lượng lipoprotein huyết tương cao hơn bình thường; trong các yếu tố thất tình, người có hành vi kiểu "A" có nguy cơ mắc bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành gấp hai lần so với người kiểu "B", nguyên nhân chính là do độ nhớt máu và tập hợp tiểu cầu tăng ở người kiểu "A"; tăng lipid máu, rối loạn huyết động lực học, rối loạn huyết học, tổn thương chức năng tim và rối loạn tuần hoàn vi mạch là cơ sở sinh lý bệnh lý dẫn đến khí trệ huyết ứ, đàm thấp tắc nghẽn. 2. Nghiên cứu khách quan hóa phân chứng Châu thị cho rằng chứng tim hư có mức độ rối loạn chức năng giãn tâm thất trái khác nhau. Trình thị cho rằng người có chứng khí tim hư có chức năng co bóp và giãn tâm thất trái giảm, trong đó tham số thời gian giãn tâm thất trái và biên độ dao động nhạy cảm hơn. Dụ thị cho rằng hoạt tính chất natri atrial (iranp) trong huyết tương có thể là chỉ số khách quan của chứng khí tim hư. Hoàng thị cho rằng độ nhớt huyết tương toàn phần trong huyết học có thể là chỉ số tham khảo quan trọng để chẩn đoán chứng khí trệ huyết ứ. Gia thị cho rằng tăng protein glycoprotein trên màng tiểu cầu (gpib) là chỉ số đặc hiệu hơn cho chứng huyết ứ trong bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành. Quá thị cho rằng ở bệnh nhân tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, chất gây đông thromboxane B2 (TXB2), beta-globulin tiểu cầu (βTG), yếu tố thứ tư tiểu cầu (PF4) tăng rõ rệt, chất 6-keto-prostaglandin (6-kctu-PGF12) giảm. So sánh chứng huyết ứ với chứng khí (chủ yếu là khí hư huyết trệ), chứng huyết ứ chủ yếu là TXB2 tăng, βTG, PF4 tăng, protein C kháng nguyên (PC:AG) giảm; chứng khí chủ yếu là 6-kctu-PGF12 thấp, βTG, PF4 tăng không rõ bằng chứng huyết ứ, PC:AG tăng bù. Trần thị cho rằng ở nhóm bệnh nhân tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành thiên thực và thiên hư, ET tăng, nhóm thiên thực tăng rõ hơn nhóm thiên hư. Hà thị cho rằng đau thắt ngực có quan hệ mật thiết với suy giảm miễn dịch tế bào, đặc biệt là mất cân bằng giữa tế bào TS và TH, trong khi biểu hiện thực là liên quan đến tăng miễn dịch thể dịch. Phần này có thể là cốt lõi cơ chế miễn dịch của bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, do đó trong điều trị cần chú trọng bồi bổ chính khí, tăng cường miễn dịch tế bào, phục hồi cân bằng giữa TS và TH. Phần này có thể là giai đoạn thứ phát trong cơ chế bệnh sinh của bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, do đó trong điều trị cần kết hợp trừ tà, ức chế tăng miễn dịch thể dịch, ức chế sản sinh kháng thể tự miễn và phức hợp miễn dịch bất thường, đồng thời thúc đẩy loại bỏ chúng. Nghiên cứu cho thấy: sự sản sinh quá mức gốc tự do và/hoặc khả năng loại bỏ giảm là cơ chế sinh hóa gây ra nhiều bệnh, đặc biệt là tổn thương do thiếu máu tái tưới máu trong bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành. Cách tiếp cận cho rằng tăng tính tập hợp tế bào và độ nhớt huyết tương là cơ sở lý hóa chính của chứng đàm trong bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành. Cư thị cho rằng chứng huyết ứ có đặc tính bệnh lý là độ nhớt máu tăng. Trần thị cho rằng người âm hư thường chủ yếu do hệ thần kinh giao cảm tăng, người dương hư thường chủ yếu do chức năng thần kinh phó giao cảm tăng. 3. Điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành Theo cơ chế bệnh sinh "bổ hư, thực thực" của bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, điều trị bằng thuốc Đông y nhấn mạnh "bổ trung hữu thông", "bổ trung chứa thông", "thông bổ song tu", tập trung vào điều chỉnh chức năng toàn thân, đạt được khí đầy huyết hành, mạch máu thông suốt. Phương pháp "bổ trung chứa thông" chủ yếu bao gồm: ích khí hoạt huyết, ôn dương hoạt huyết, ích khí dưỡng âm hoạt huyết, dưỡng huyết hoạt huyết. Ích khí hoạt huyết là phương pháp điều trị phổ biến trong điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành gần đây. So với phương pháp hoạt huyết thông mạch đơn thuần, hiệu quả điều trị dài hạn và ổn định hơn. Trương thị quan sát lâm sàng hiệu quả của Bổ Dương Hồi Vũ Thang trong điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, kết quả cho thấy nhóm Bổ Dương Hồi Vũ Thang có mức độ giảm rõ rệt về peroxide lipid huyết thanh (LPO), apolipoprotein B100 (APOB100), tỷ lệ LPO/SOD, APOB100/APOA, đồng thời tăng rõ rệt SOD và APOA huyết thanh. Hiệu quả giảm đau thắt ngực của nhóm Bổ Dương Hồi Vũ Thang tương đương nhóm đối chứng, nhưng cải thiện điện tim tốt hơn nhóm đối chứng. Giang thị dùng Khí Huyết Xung Tế điều trị đau thắt ngực do khí hư huyết ứ ở bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành 30 trường hợp, nhóm đối chứng 25 trường hợp dùng viên Đơn sâm phức phương, 3 viên/lần, 1 lần/ngày uống, kết quả hiệu quả của hai nhóm lần lượt là 90% và 60%, nhóm điều trị hiệu quả rõ rệt hơn nhóm đối chứng. Hứa thị nghiên cứu lâm sàng hiệu quả của Viên Thông Tâm Lạc trong điều trị đau thắt ngực do bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, kết quả nhóm điều trị có hiệu quả giảm đau thắt ngực là 94,49%, vượt xa nhóm đối chứng 78%, tỷ lệ hiệu quả tổng thể điện tim nhóm điều trị là 71,05%, vượt xa nhóm đối chứng 47,33%. Phương pháp ôn dương hoạt huyết chủ yếu áp dụng cho bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành do dương khí suy yếu, hàn trệ. Lưu thị dùng thuốc Đông y ôn dương hoạt huyết, tên là Xạ Hương Tâm Não Lạc điều trị 345 trường hợp bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, hiệu quả giảm đau thắt ngực là 88,1%, hiệu quả cải thiện điện tim thiếu máu là 72,9%. Quách thị dùng bài thuốc thơm ôn thông tán điều trị thể hàn trệ, hiệu quả nhanh. Phương pháp dưỡng huyết hoạt huyết trừ đàm chủ yếu dùng để điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành thể đàm thấp thừa. Lý thị dùng hoàng kỳ, hải tảo, bối mẫu chế thành dạng bột, dùng viên Đơn sâm phức phương làm nhóm đối chứng, kết quả hiệu quả giảm đau thắt ngực lần lượt là 57,5% và 16,67%, tỷ lệ cải thiện điện tim tốt hơn nhóm đối chứng. Phòng thị đề xuất rằng khi dùng thuốc hoạt huyết hóa ứ lâu dài mà không hiệu quả, nên xem xét "ứ huyết" do "đàm" gây ra, cần điều trị theo chứng đàm, tự sáng chế phương "Thông Quan Thang" điều trị đau thắt ngực hiệu quả rõ rệt. Phương pháp ích khí dưỡng âm chủ yếu dùng để điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành thể khí âm lưỡng hư. Vương thị dùng phương Thông Quan Sinh Mạch Dẫn (dưỡng khí dưỡng âm, hoạt huyết hóa ứ) điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, kết quả hiệu quả vượt xa nhóm đối chứng. Vương thị dùng Thanh Mạch Ôn Đởm Thang điều trị 235 trường hợp bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành, tỷ lệ hiệu quả tổng thể là 84%. Ưu thế của điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành bằng y học cổ truyền Trung Hoa nằm ở việc điều chỉnh chức năng toàn thân, chú trọng mối quan hệ khí huyết, cải thiện khả năng thích nghi của cơ thể với môi trường bên trong và bên ngoài. Việc nắm vững mối quan hệ giữa thông và bổ, cục bộ và toàn bộ trong phân chứng, không chỉ tập trung vào điều trị cục bộ tim mà còn xem xét cải thiện toàn bộ, do đó điều trị bệnh tim mạch do tắc nghẽn động mạch vành bằng y học cổ truyền Trung Hoa có tiềm năng phát triển rộng rãi.
|