Hiện nay dịch HIV ở Trung Quốc đã lan rộng đến 31 tỉnh thành, có khoảng 840.000 người mang virus HIV. Để tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả cho HIV, trong những năm gần đây Trung Quốc đã triển khai nghiên cứu về phòng và điều trị HIV bằng y học cổ truyền Trung Hoa, đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng xét từ thực tiễn lâm sàng hiện nay, phương pháp kết hợp Đông – Tây y trong phòng và điều trị HIV có ưu thế rõ rệt hơn. Gần đây, phóng viên đã phỏng vấn giáo sư Vương Dung Băng, người đứng đầu ngành kết hợp Đông – Tây y tại Bệnh viện Địa Đàn Bắc Kinh. Đối tượng và phương pháp quan sát Theo Vương Dung Băng, Bệnh viện Địa Đàn Bắc Kinh đã bắt đầu khảo sát các triệu chứng chứng trạng của bệnh nhân HIV từ hai năm trước, và từ tháng 2 năm nay bắt đầu triển khai điều trị thuốc Đông y miễn phí. Để phân tích rõ hiệu quả của thuốc Đông y, bệnh viện tiến hành phân tích so sánh sơ bộ 32 ca bệnh nhân HIV và người nhiễm HIV được điều trị kết hợp Đông – Tây y (điều trị Tây y chống virus kết hợp điều trị Đông y) với 33 ca bệnh nhân cùng giai đoạn nền được điều trị Tây y chống virus đơn thuần. Những người tham gia nhóm quan sát đều là bệnh nhân điều trị tại phòng khám HIV của Bệnh viện Địa Đàn Bắc Kinh từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2005, tiêu chuẩn chẩn đoán dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán trong "Hướng dẫn điều trị HIV" do Hiệp hội Y học Trung Quốc ban hành năm 2004, và tiêu chuẩn phân loại chứng trạng Đông y trong "Phương án kỹ thuật lâm sàng điều trị HIV bằng Đông y (thử nghiệm)" năm 2005. Sau nửa năm điều trị chống virus, ghi nhận CD4 và CD8 làm điểm khởi đầu quan sát, bệnh nhân dùng thuốc chống virus đã bước vào giai đoạn ổn định chức năng miễn dịch, kết quả kiểm tra sau 3 tháng sau đó làm điểm kết thúc quan sát, thời gian điều trị bằng thuốc Đông y là 3 tháng. Các chỉ số quan sát bao gồm: thông tin nhân khẩu học, thời gian bệnh, tình trạng dùng thuốc, xét nghiệm máu, chức năng gan ALT, chức năng thận Cr, số lượng CD4, CD8 và tỷ lệ CD4/CD8. Kiểm tra nhóm tế bào T bằng phương pháp dòng chảy, chủ yếu dựa vào kết quả xét nghiệm của bệnh viện. Một số bệnh nhân trước điều trị đã kiểm tra tải lượng virus. Các triệu chứng chính và triệu chứng của nhóm kết hợp Đông – Tây y bao gồm ho, tiêu chảy, chán ăn, đau đầu, ra mồ hôi ban ngày, ra mồ hôi ban đêm, mệt mỏi, gầy sút và cân nặng, được ghi nhận bằng quy tắc điểm chứng trạng Đông y, theo dõi sự thay đổi trước và sau điều trị. Hai nhóm điều trị cơ bản đều dùng thuốc ức chế enzyme ngược, điều trị Đông y dựa trên "Phương án kỹ thuật lâm sàng điều trị HIV bằng Đông y (thử nghiệm)" do Cục Quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc ban hành, điều trị cá thể hóa theo phân biệt chứng trạng, bệnh nhân đang dùng thuốc chống virus khi thêm thuốc Đông y tiếp tục điều trị chống virus. Điều trị kết hợp Đông – Tây y vượt trội hơn điều trị chống virus đơn thuần Vương Dung Băng nói rằng, khách quan mà nói, sau 3 tháng điều trị bằng thuốc Đông y, các chỉ số miễn dịch và chất lượng cuộc sống cải thiện rõ rệt, so sánh trước và sau điều trị có sự khác biệt rõ rệt, triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân cải thiện rõ rệt nhất là mệt mỏi, tiêu chảy, chán ăn; sau điều trị, số lượng tế bào T CD4 tăng, so sánh trước và sau điều trị có sự khác biệt rõ rệt, tỷ lệ CD4/CD8 tăng, nhưng không có sự khác biệt thống kê. 11 ca bệnh nhân sau điều trị 3 tháng tăng cân, 17 ca cân nặng cơ bản ổn định; 6 ca bệnh nhân không dùng thuốc chống virus, sau điều trị 3 tháng số lượng tế bào T CD4 và CD8 tăng nhẹ. Điều trị bằng thuốc Tây y chống virus đơn thuần, sau điều trị số lượng tế bào T CD4 tăng nhẹ, không có sự khác biệt rõ rệt trước và sau điều trị, tỷ lệ CD4/CD8 sau điều trị tăng, có sự khác biệt rõ rệt. So sánh giữa hai nhóm, nhóm điều trị kết hợp Đông – Tây y có sự tăng số lượng tế bào T CD4 tốt hơn so với nhóm điều trị chống virus đơn thuần. Việc điều trị Đông y phù hợp không chỉ cải thiện triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống, mà còn tăng cường khả năng chống bệnh của bệnh nhân. Chú ý đến ảnh hưởng khi kết hợp thuốc Đông y vào điều trị Vương Dung Băng đưa ra quan điểm của mình về việc sử dụng thuốc Đông y đúng cách trong điều trị bệnh nhân HIV hiện nay. Việc đưa thuốc Đông y vào điều trị HIV phù hợp hơn ở giai đoạn đầu bệnh, lúc này bệnh nhân vẫn còn khả năng miễn dịch chống virus, đang trong giai đoạn tranh chấp giữa chính khí và tà khí, thuốc Đông y thể hiện khả năng bảo vệ miễn dịch tế bào, tăng cường khả năng chống virus. Mặc dù thuốc Đông y không phải là thế mạnh trong tác dụng chống virus, nhưng tác dụng phụ ít, phù hợp dùng sớm đơn thuần, có thể trì hoãn việc dùng thuốc chống virus, tránh các tác dụng phụ nghiêm trọng, hoặc dùng đồng thời với thuốc chống virus để phát huy tác dụng hiệp đồng. Bà nhấn mạnh việc điều trị cá thể hóa, căn cứ vào thể chất và triệu chứng chính của bệnh nhân để điều trị, dù biểu hiện triệu chứng khác nhau, nhưng lưỡi thường tối màu, mạch thường trầm tế, bản chất là khí âm đều hư, ngoại giới không kiên cố, dịch độc phá hủy chính khí, bệnh kéo dài vào kinh mạch, khí trệ huyết ứ, cơ chế bệnh là chính khí suy, tà khí thịnh, trăm tà cùng sinh, dẫn đến nhiều chứng bệnh, do đó trọng tâm là bổ chính, thuốc Đông y tăng cường chức năng bổ tỳ ích khí dưỡng âm được sử dụng phổ biến nhất. Căn cứ vào tình trạng bệnh nhân khi khám, bắt đầu từ cải thiện triệu chứng chính, tùy theo triệu chứng gia giảm, sau khi đạt hiệu quả cần điều chỉnh kịp thời trạng thái toàn thân, hiệu quả tốt, phần lớn bệnh nhân tuân thủ điều trị khá tốt. Liệu pháp cocktail chống virus đã mang lại hy vọng cho bệnh nhân HIV, trong 6 tháng đầu dùng thuốc, virus được ức chế nhanh chóng, tế bào T CD4 tăng nhanh, tình trạng toàn thân cải thiện đồng thời, tiếp tục dùng thuốc thì tốc độ tăng tế bào T CD4 chậm dần, phần lớn bệnh nhân tế bào T CD4 duy trì ở một mức nhất định, khó đạt mức bình thường. Một số bệnh nhân giai đoạn muộn dù tải lượng virus không thể đo được, nhưng hệ miễn dịch lâu dài vẫn ở trạng thái suy kiệt, trở thành nguyên nhân tử vong. Do đó, đối với bệnh nhân dùng thuốc chống virus hiệu quả, hệ miễn dịch ở trạng thái ổn định tương đối, sử dụng thuốc Đông y phù hợp nhằm thúc đẩy phục hồi miễn dịch, kết quả sơ bộ cho thấy tính cần thiết và khả thi của việc dùng thuốc Đông y sớm và dùng đồng thời với thuốc chống virus. Do số lượng ca quan sát còn ít, đồng thời chưa theo dõi chỉ số tải lượng virus, nên việc phối hợp thuốc Đông y với thuốc chống virus để phát huy tối đa tác dụng hiệp đồng vẫn cần nghiên cứu sâu hơn. Về vấn đề chế phẩm thuốc, Vương Dung Băng ví dụ: thuốc sắc nước có hiệu quả tốt nhất, nếu dùng thuốc sẵn thì hiệu quả kém hơn, vì vậy nếu có công nghệ tốt để thể hiện hiệu quả thuốc sắc, sẽ có nhiều bệnh nhân mong muốn dùng thuốc Đông y. Cần nhấn mạnh một điểm đặc biệt: trong quá trình điều trị bệnh nhân HIV, cần có kế hoạch, mục tiêu rõ ràng để tiến hành quan sát lâm sàng chi tiết, mới có thể làm rõ vấn đề. Vương Dung Băng tổng kết rằng, một mặt, một số học giả nước ngoài dựa trên phân tích sản phẩm chuyển hóa thuốc và tính chất lý hóa học, cho rằng một số thuốc Đông y tham gia điều trị có thể làm ảnh hưởng đến hiệu quả thuốc chống virus, nhưng quan sát so sánh trong nhóm này chưa chứng minh hiện tượng này. Tính phức tạp của quá trình chuyển hóa trong cơ thể khiến kết quả thử nghiệm trong và ngoài cơ thể không nhất quán, Trung Quốc có nguồn tài nguyên thuốc Đông y phong phú, có thể chú ý thích hợp để tránh vấn đề. Mặt khác, phương pháp đánh giá hiệu quả hiện hành chủ yếu được thiết kế cho liệu pháp chống virus, phản ánh bản chất điều trị HIV, nhưng không thể phản ánh toàn diện đặc điểm lâm sàng của y học cổ truyền Trung Hoa. Việc cải thiện triệu chứng, tăng cường khả năng chống virus của cơ thể bằng y học cổ truyền Trung Hoa được thừa nhận rộng rãi trong lâm sàng, y học cổ truyền Trung Hoa có thể phát huy tốt hơn. Do đó, cần phát triển các thuốc Đông y có hiệu quả thực sự phù hợp với điều kiện Trung Quốc, nhanh chóng hoàn thiện tiêu chuẩn hiệu quả điều trị HIV bằng y học cổ truyền Trung Hoa.
|