Viêm tủy xương mủ cấp tính hay còn gọi là viêm tủy xương huyết nguồn là tình trạng các thành phần cấu tạo xương bị nhiễm khuẩn gây ra nhiễm trùng cấp tính. Tổn thương có thể ảnh hưởng đến tủy xương, lớp vỏ xương và màng xương. Bệnh có tính phá hủy lớn, diễn biến nhanh. Thường gặp ở trẻ em, nam giới nhiều hơn nữ giới. Trong y học cổ truyền Trung Hoa được gọi là “cổ trĩ chứng”, tùy theo vị trí phát bệnh mà đặt tên khác nhau. Viêm tủy xương ở bên ngoài đùi gọi là “phụ trĩ chứng”, ở bên trong gọi là “thiểu cốt trĩ”. Phòng bệnh trước khi mắc bệnh (1)Biện pháp chung Phòng ngừa viêm tủy xương cấp tính trước hết cần tăng cường sức đề kháng cơ thể, phòng tránh vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Giữ vệ sinh cá nhân tốt, bổ sung dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao nhận thức về bệnh tật. Khi đã xuất hiện các bệnh như sởi, áp xe, viêm họng cấp tính thì phải điều trị sớm, ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập vào máu. (2)Phòng ngừa bằng thuốc 1. Dùng thuốc bôi ngoài da như vàng hoàng th膏 hoặc lục vương th膏; cũng có thể dùng thái dược th膏 rắc thêm hồng linh đan để dán ngoài. 2. Dùng thuốc tây như kem erythromycin bôi ngoài. 3. Thuốc uống thì thanh nhiệt giải độc lợi thấp, dùng phương Hoàng liên giải độc thang gia giảm để ngăn ngừa sự lan rộng của vi khuẩn. Dùng thuốc tây như penicillin, erythromycin, bacitracin. Chữa bệnh khi đã mắc bệnh, phòng ngừa biến chứng Khi viêm tủy xương cấp tính xảy ra thì diễn biến rất nhanh, trong vòng 1-2 tuần, các chủng vi khuẩn mạnh sẽ nhanh chóng ăn mòn toàn bộ thân xương, không chỉ gây hoại tử chi, khó điều trị lâu dài, nặng có thể đe dọa tính mạng. (1)Giai đoạn đầu Điều trị sớm cần dùng lượng lớn penicillin hoặc kết hợp hai loại kháng sinh, truyền dịch. Đồng thời lấy dịch chọc hút để nuôi cấy vi khuẩn, xác định độ nhạy cảm với thuốc của tác nhân gây bệnh, dùng kháng sinh phù hợp. Đồng thời thực hiện khoan xương hoặc phẫu thuật rạch dẫn lưu. Khoan xương tại ổ bệnh, mở cửa dẫn lưu, đối với trường hợp tổn thương xương rộng có thể tiến hành rửa qua rãnh dài. Mục tiêu chính trong phẫu thuật là loại bỏ xương chết, loại bỏ mủ. Cần xử lý tích cực, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp chuyển sang viêm tủy xương mạn tính. (2)Giai đoạn nhiễm độc cấp tính 1 Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tiêu thũng. Dùng phương tiên phương hoạt mệnh ẩm kết hợp Hoàng liên giải độc thang gia giảm. Nếu độc nhiệt nội liệt, thịt mục hóa mủ, thiêu đốt gân xương, cần giải độc thông tán. Người thể trạng khỏe dùng Thoát ung tán; người thể trạng yếu dùng Bát trân Cúc Chỉ Tảo Sắc thang (đảng sâm, thục địa, bạch linh, bạch truật, đương quy, xuyên khung, bạch chỉ, táo giác sác, cam thảo, cúc chỉ, bạch thược). Đối với trường hợp đã tiến hành rửa dẫn lưu mủ hoặc tổn thương xương nghiêm trọng trong quá trình phẫu thuật, diện tích mở rộng lớn, có thể dùng Sinh cơ thu khẩu tán: nhiếp, huyết kiết, tam thất, chế hương phụ, chế mộc dược mỗi thứ 9 gram, băng phiến, ngân hương mỗi thứ 3 gram, tượng bì tàn 15 gram. Bôi lên chỗ bệnh, thúc đẩy lành vết thương, bảo vệ chi thể, phòng ngừa gãy xương. (3)Giai đoạn cuối Phẫu thuật hình cánh bướm: Mở rộng mô mềm và xương, loại bỏ xương chết và hốc sâu, tạo hình ổ xương giống hình cánh bướm, miệng ngoài rộng, miệng trong hẹp, không khép kín vết thương, chỉ dùng băng dầu parafin bịt kín, cố định bằng bột. Sau 10 ngày thay băng. Nếu điều kiện mô mềm xung quanh ổ bệnh tốt, có thể khép kín vết thương. Loại bỏ ổ bệnh, ghép cơ mảnh, mạc nối lớn hoặc xương sợi tự thân; đối với trường hợp mô mềm xung quanh tốt, viêm tủy xương mạn tính ổn định và hốc nhỏ, có thể khép kín vết thương một lần. Phẫu thuật chuyển đổi mô cơ, màng, da phức hợp có mạch máu, chỉ áp dụng cho trường hợp thiếu hụt xương lớn, mô mềm xung quanh ổ bệnh kém. Làm hỗn hợp viên chứa kháng sinh, streptomycin và gel xương thành dạng chuỗi, sau khi loại bỏ ổ bệnh thì đưa viên chuỗi vào hốc. Dù sử dụng phương pháp nào, kể cả dùng thuốc đông y bôi ngoài, việc loại bỏ xương chết và tiêu diệt hốc mủ còn sót lại là chìa khóa điều trị viêm tủy xương mạn tính.
|