Không chỉ giàu dinh dưỡng, cải chí lớn còn có hương vị đặc biệt, đồng thời có công dụng dược lý tốt. Các thí nghiệm y học hiện đại chứng minh rằng nó có nhiều chức năng chữa bệnh: có thể cầm máu các loại, như xuất huyết nội thương, băng huyết sau sinh, chảy máu tiêu hóa, tiểu ra máu, xuất huyết do loét dạ dày – ruột, xuất huyết võng mạc, v.v.; có thể hạ huyết áp; có thể điều trị các bệnh về hệ tiết niệu như đạm niệu, sỏi tiết niệu, phù thận; đối với hệ tiêu hóa, có thể kiện vị tiêu thực, điều trị co thắt dạ dày, loét dạ dày, kiết lỵ, viêm ruột, v.v., đồng thời có thể điều trị các bệnh về mắt như đau mắt đỏ, viêm kết mạc, mù đêm, v.v.
Vua rau rừng – Rau măng
Rau măng, dân gian còn gọi là cẩu đầu thảo hoặc ý thích thảo. Thuộc họ Phong vĩ hoa, là cây thân thảo lâu năm; trước khi ra lá thì ra hoa. Phân bố rộng rãi ở khắp nơi có rừng núi trong phạm vi Trung Quốc. Theo các nhà thực vật học xác định, các loài dương xỉ là loài thực vật tồn tại từ cách đây hai trăm triệu năm, thời kỷ Đáp lập thế, nên thấy rõ sự lâu đời của chúng, vì vậy người ta gọi rau măng là "vua rau rừng cổ xưa". Theo chú thích của Lục Cơ trong "Thi Kinh": thời Chu – Tần, rau măng từng được dùng làm lễ vật tế. Ngày nay, rau măng không chỉ là món ăn yêu thích của người dân vùng núi mà còn là món ăn ngon miệng của người thành thị. Theo phân tích, trong 100g rau măng có chứa 86g nước, 1,6g protein, 1,68mg caroten, 35mg acid ascorbic (vitamin C), 0,4g chất béo, 1,3g chất xơ, 10g carbohydrate, 0,4g tro, 24mg canxi, 0,7mg sắt, tạo ra 50 kcal năng lượng trong cơ thể. Khi chế biến thành món ăn, rau măng có hương vị thơm ngon, thanh mát, thoảng qua phổi, mang hương vị độc đáo, là món ăn thượng hạng trên bàn tiệc.
Không chỉ giàu dinh dưỡng, rau măng còn có thể dùng làm thuốc. Lý Thời Trân từng đánh giá: "Khử nhiệt độ bạo phát, lợi tiểu, khiến người ngủ, bổ ngũ tạng hư hao". Y học Trung Hoa cho rằng: rau măng vị ngọt, hơi đắng, tính hàn. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi tiểu, nhuận tràng, ích khí, dưỡng âm. Chủ yếu dùng để điều trị sốt cao, mê man, đau nhức xương khớp, độc nhiệt ở ruột, tiểu tiện khó khăn, khí hư do thấp nhiệt ở phụ nữ, táo bón hoặc táo bón kinh niên, v.v. Nghiên cứu hiện đại chứng minh rằng rau măng có tác dụng hạ huyết áp, thanh hỏa, kiện vị.
Kháng sinh tự nhiên – Mã đề
Mã đề là một loại rau hoang dã được ghi chép sớm trong các sách cổ, có đóng góp to lớn cho con người. Lá màu xanh, cuống đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen, vì vậy còn gọi là ngũ hành thảo. Do có thể ăn tươi hoặc khô, dùng làm rau hoặc làm lương thực đều được, lại có hiệu quả y học tốt, nên người dân Trung Quốc còn gọi nó là "rau trường thọ", "rau trường mạng".
Các nghiên cứu khoa học hiện đại chứng minh rằng mã đề chứa nhiều noradrenalin, nhiều muối kali, giàu dihydroxyethylamine, acid malic, glucose, canxi, photpho, sắt, cùng các chất dinh dưỡng như caroten, vitamin B, vitamin C. Việc thường xuyên ăn mã đề không chỉ bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể mà còn hoàn toàn không lo tăng cholesterol, thực sự là một loại rau sạch và thuốc quý.
Ngoài việc dùng làm rau ăn, mã đề còn có giá trị y học cao vì nó mọng nước, thịt mềm, tính hàn, vị chua, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, cầm tiêu chảy, giảm viêm, giải độc, chữa mụn nhọt. Vì vậy, nó được mệnh danh là "kháng sinh tự nhiên". Thí nghiệm dược lý chứng minh rằng nó có khả năng ức chế mạnh với nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn đại tràng, tụ cầu vàng, v.v. Trong mùa hè thu, nó có thể dùng để điều trị các chứng bệnh như viêm ruột, kiết lỵ, tiểu ra máu, viêm niệu đạo, dị ứng da, viêm da, khí hư đỏ trắng, các loại ung nhọt, mụn nhọt, đau ngực, chảy máu trĩ, vết cắn của rắn độc, lao phổi, v.v.
Món rau mùa xuân tuyệt phẩm – Bạch cước
Bạch cước là cây thân thảo lâu năm thuộc họ Hương phủ, còn gọi là bù sơ, bù thảo, v.v. Hình dạng và đặc điểm của nó được miêu tả sinh động trong bài thơ "Tụng bù": "Lệ lệ thủy thượng bù, kết thủy tán vi châu. Gian nhi thu hàm đạm, nhập xuất xuân phô thù. Sơ mông thực điêu tổ, mộ tuỷ đoản giao đồ. Sở bi đường thượng khúc, túy lạc hoàng kim khu."
Bạch cước mọc hoang ở ven sông, bờ ao, bãi nước nông.
Bạch cước được gọi là "rau kháng Kim", từng có một truyền thuyết cảm động: cuối thời Nam Tống, Liễu Hồng Ngọc tự mình ăn bạch cước bên hồ, thấy rất non, ngọt, giòn, thơm, liền ra lệnh bộ hạ đào lên để thay thế lương thực, cuối cùng đánh bại quân Kim.
Bạch cước có lịch sử ăn uống lâu đời ở Trung Quốc. Trong "Thi Kinh" có câu: "Kỳ súc duy hà? Duy sún cập bù." Trong "Châu lễ" cũng có ghi: "Gia đậu chi thực..." nghĩa là trong đĩa đựng có bạch cước và thịt xà lách. Ngày nay, người ta ăn bạch cước bằng cách lấy phần thân non của bạch cước, bỏ vỏ, ngâm nước, ngày hôm sau có thể ăn được. Có thể xào, hầm, làm nhân bánh, nấu canh, nấu thịt, hợp cả với món mặn và chay. Theo phân tích dinh dưỡng, toàn bộ cây bạch cước chứa nhiều vitamin B1, B2, C. Có tác dụng tán phong thấp, mở trí tuệ. Chủ yếu dùng để điều trị tiểu tiện khó khăn, sữa vú sưng đau, v.v.
Thảo dược rau hoang – Mã lan đầu
Mùa xuân, mã lan đầu mọc lên từ ven đường, đất trống, mang đến hơi thở mùa xuân, tô điểm thêm bữa ăn của chúng ta, mang lại dinh dưỡng và sức khỏe. Minh Lý Thời Trân từng nói: "Mã lan, hồ trạch thấp trũng nhiều chỗ, tháng hai mầm đỏ thân trắng, rễ trắng, lá dài, có răng cưa, người phương Nam thường phơi khô để làm rau và nhân bánh bao." Điều này cho thấy người ta ăn mã lan đầu từ rất lâu.
Mã lan đầu trở thành món ăn ngon trên bàn ăn không chỉ vì ngon miệng mà còn vì giàu dinh dưỡng. Ngoài protein, chất béo, carbohydrate, nó còn chứa nhiều muối vô cơ và vitamin, hàm lượng nhiều thành phần dinh dưỡng vượt xa cà chua. Trong 100g mã lan đầu có chứa 45mg canxi, 69mg photpho, 6,2mg sắt, 513mg kali, đều vượt hơn rau chân vịt, đồng thời hàm lượng oxalat của mã lan đầu thấp hơn rau chân vịt, hấp thu canxi, sắt tốt hơn. Ngoài ra, hàm lượng tiền vitamin A bằng với củ cà rốt, hàm lượng vitamin C gần bằng mức trung bình của trái cây cam quýt.
Mã lan đầu vừa là món rau ngon, vừa có thể dùng làm thuốc. Y học cổ truyền Trung Hoa cho rằng mã lan đầu vị cay, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thanh huyết chỉ huyết, lợi tiểu tiêu thũng. Dùng để điều trị các chứng như đau họng, sưng đau nhọt, viêm mủ, tiểu tiện bất lợi, v.v. Ăn tươi có hiệu quả tốt đối với đau họng, viêm họng cấp tính, viêm amidan, v.v. Dùng nước sắc uống có thể phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp trên, viêm kết mạc cấp tính, viêm miệng, viêm nướu, viêm tuyến vú, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc do tăng huyết áp hay đau mắt do glôcôm, v.v. Gần đây, việc dùng mã lan đầu điều trị viêm gan A và kiết lỵ do vi khuẩn cũng cho hiệu quả.
Món bổ máu tuyệt hảo – Rau dền
Rau dền là một loại rau hoang dã có hoa nhỏ màu xanh trắng, còn gọi là "nhân thanh thảo", mọc hoang ở khắp nơi ở Trung Quốc vào mùa xuân và hạ. Người ta thường ăn phần lá non mọc vào mùa xuân. Rau dền sinh trưởng nhanh, mỗi khi mưa xuân rơi, hoặc ở sân trước, sân sau nhà, hoặc ven đường, sân vườn, những cây con non bé nhỏ lại mọc lên từng đám. Lúc này hái lá non nấu ăn, mùi thơm nhẹ, dai mềm, ăn vào dễ chịu, là một món ăn thượng hạng trong mùa xuân.
Rau dền chứa nhiều chất dinh dưỡng, có hàm lượng axit amin cao. Protein, chất béo, canxi và photpho trong rau dền đều cao. Hàm lượng sắt trong rau dền đỏ còn cao hơn rau chân vịt. Y học hiện đại cho biết, do hàm lượng sắt và canxi cao, rau dền là một loại rau tốt cho người thiếu máu, trẻ em sau phẫu thuật, người bị gãy xương. Đặc biệt, người thiếu máu càng nên ăn nhiều. Vì sắt và canxi trong rau dền không bị ảnh hưởng bởi oxalat, nên khả năng hấp thụ cao, không gây tác dụng phụ, giúp quá trình tổng hợp và tái tạo máu tốt hơn.
Rau dền còn có giá trị dược lý cao, được tôn vinh là "rau bổ máu", "rau trường thọ", có thể minh mục trừ tà, thông khiếu, lợi đại tiểu trường, thanh nhiệt giải độc, cầm máu, kháng khuẩn, trị kiết lỵ, tiêu viêm, giảm sưng, dùng để điều trị viêm ruột cấp, kiết lỵ do vi khuẩn, thương hàn, viêm amidan, nhiễm trùng đường tiểu, táo bón, bệnh ký sinh trùng sán, bệnh giun, bướu cổ, ung thư tử cung, v.v. Dùng ngoài có thể chữa vết cắn của bọ cạp, ong, v.v.
Rau dền có thể ăn thường xuyên, nhưng không nên ăn quá nhiều một lúc, nếu không dễ gây viêm da mạn tính. Những người bị rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, tiếng ruột, đi ngoài lỏng nên ăn ít hoặc tạm ngừng ăn.
Món ăn mùa xuân số một – Hẹ
Hẹ, còn gọi là hẹ, xưa gọi là trường sinh hẹ, siêu dư thảo, có người khen nó là "món ăn mùa xuân số một".
Vào đầu mùa xuân, thời tiết rét buốt, các loại rau khác đều héo úa, dân gian đã có tục lệ "thử hẹ vàng trên đĩa xuân". Hẹ nấu ăn có thể dùng làm nguyên liệu chính hoặc phụ gia. Làm nguyên liệu chính, có thể xào riêng hoặc luộc rồi trộn lạnh, màu xanh, thịt mềm. Làm phụ gia, có thể phối hợp với nhiều nguyên liệu động vật, thích hợp để xào, xào nhanh, xào rán, v.v.; khi dùng làm gia vị, hương thơm lan tỏa. Trong các món ăn làm từ bột, có thể dùng làm nhân bánh bao, bánh cuốn, sủi, v.v. Cây hẹ, thịt giòn, có thể xào riêng, trộn lạnh hoặc phối hợp với các nguyên liệu khác. Hoa hẹ có thể muối chua. Hẹ vàng có thể dùng làm nguyên liệu chính hoặc phụ gia, hoặc làm nhân bánh bao, bánh tráng, v.v. Hẹ trở thành món rau chay tuyệt vời trong gia đình, không chỉ thịt mềm, thơm ngon mà còn giàu dinh dưỡng, giá trị dưỡng sinh cao. Nó chứa hàm lượng vitamin A nguyên cao nhất trong các loại rau, cùng với protein, chất béo, đường, canxi, photpho, sắt, vitamin C, chất xơ, dầu bay hơi và hợp chất lưu huỳnh. Trong "Bổ thảo thập di" của y học cổ truyền Trung Hoa viết: "Loại thực phẩm này rất ấm, bổ dưỡng cho con người". Trong "Bổ thảo kinh tập chú" nói: "Sống thì cay, hành huyết; nấu chín thì ngọt, bổ trung, ích can, tán uất, dẫn ứ". Vì vậy, ăn hẹ một cách hợp lý hàng ngày không chỉ có thể chữa các chứng như chấn thương do té ngã, nghẹn, buồn nôn, nôn ra máu, đau tức sườn, mà còn có thể bổ can thận, ấm lưng gối, kích thích sinh dục. Các chuyên gia y học khuyên dùng hẹ là món ăn dưỡng sinh tốt cho những người mắc các chứng như liệt dương, khí hư nhiều, tiểu nhiều, đau lưng, yếu chân, v.v. Ngoài ra, hẹ chứa nhiều vitamin A nguyên, có tác dụng dưỡng phổi, dưỡng da, phòng ngừa cảm cúm do phong hàn và mù đêm. Chất dầu bay hơi và hợp chất lưu huỳnh trong hẹ có thể tăng khẩu vị, sát khuẩn. Trong các phương pháp dưỡng sinh dân gian, thường dùng hẹ vàng xào tôm, ăn để cải thiện chức năng sinh lý nam giới; hoặc nghiền nước hẹ tươi, uống với nước ấm, dùng để chữa viêm dạ dày – ruột; hoặc ăn nhiều hẹ nấu chín mềm, có thể ngăn ngừa táo bón, chữa tình trạng nuốt phải dị vật kim loại. Tuy nhiên, người có nhiệt hư, rối loạn tiêu hóa nên ăn ít. ,Other,phương thuốc dân gian, toàn tập phương thuốc dân gian" />
Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Chăm sóc sức khỏe theo y học cổ truyền Trong tiết trời xuân, gió xuân thổi ấm, vạn vật nảy mầm. Vào thời điểm tuyệt đẹp này, nhiều người thích thưởng thức món ngon thường rủ nhau đi hái rau rừng, mang theo giỏ và kéo, tay cầm kéo, bước vào vùng ngoại ô để hái những loại rau rừng tươi non, mềm mại – đó là các loại rau hoang dã quý giá. Dưới đây giới thiệu một số loại rau hoang dã phổ biến, giàu dinh dưỡng, hương vị thơm ngon, có giá trị dược liệu cao, đồng thời có tác dụng bổ khí và điều hòa cơ thể, để mọi người lựa chọn ăn uống.
Như viên thuốc thần kỳ – Cải chí lớn
Còn gọi là địa cật, minh thanh thảo, v.v. Cải chí lớn là một trong những loại rau hoang dã được yêu thích và khen ngợi. Ngay từ thời Xuân Thu, trong "Thi Kinh" đã có câu thơ "Vị ngon như cải chí lớn", nhà thơ Tô Đông Pha cũng từng viết: "Thành trung đào lý sầu phong vũ, xuân tại khê đầu cải chí lớn hoa". Cải chí lớn giàu dinh dưỡng. Theo phân tích hóa học, mỗi kg rau chứa 42,4g protein, 18g đường, 3,2g chất béo, 11,2g chất xơ thô, 0,58g photpho, 3,36g canxi, cùng với caroten, vitamin C và các nguyên tố vi lượng như sắt, kali, mangan, magie; nó còn chứa nhiều axit amin thiết yếu cho cơ thể con người. Hàm lượng protein của cải chí lớn đứng hàng đầu trong các loại rau lá và quả, hàm lượng caroten tương đương với củ cà rốt, hàm lượng vitamin C cao hơn cả cà chua, hàm lượng canxi, sắt, mangan, kali trong chất vô cơ cũng khá cao.
Không chỉ giàu dinh dưỡng, cải chí lớn còn có hương vị đặc biệt, đồng thời có công dụng dược lý tốt. Các thí nghiệm y học hiện đại chứng minh rằng nó có nhiều chức năng chữa bệnh: có thể cầm máu các loại, như xuất huyết nội thương, băng huyết sau sinh, chảy máu tiêu hóa, tiểu ra máu, xuất huyết do loét dạ dày – ruột, xuất huyết võng mạc, v.v.; có thể hạ huyết áp; có thể điều trị các bệnh về hệ tiết niệu như đạm niệu, sỏi tiết niệu, phù thận; đối với hệ tiêu hóa, có thể kiện vị tiêu thực, điều trị co thắt dạ dày, loét dạ dày, kiết lỵ, viêm ruột, v.v., đồng thời có thể điều trị các bệnh về mắt như đau mắt đỏ, viêm kết mạc, mù đêm, v.v.
Vua rau rừng – Rau măng
Rau măng, dân gian còn gọi là cẩu đầu thảo hoặc ý thích thảo. Thuộc họ Phong vĩ hoa, là cây thân thảo lâu năm; trước khi ra lá thì ra hoa. Phân bố rộng rãi ở khắp nơi có rừng núi trong phạm vi Trung Quốc. Theo các nhà thực vật học xác định, các loài dương xỉ là loài thực vật tồn tại từ cách đây hai trăm triệu năm, thời kỷ Đáp lập thế, nên thấy rõ sự lâu đời của chúng, vì vậy người ta gọi rau măng là "vua rau rừng cổ xưa". Theo chú thích của Lục Cơ trong "Thi Kinh": thời Chu – Tần, rau măng từng được dùng làm lễ vật tế. Ngày nay, rau măng không chỉ là món ăn yêu thích của người dân vùng núi mà còn là món ăn ngon miệng của người thành thị. Theo phân tích, trong 100g rau măng có chứa 86g nước, 1,6g protein, 1,68mg caroten, 35mg acid ascorbic (vitamin C), 0,4g chất béo, 1,3g chất xơ, 10g carbohydrate, 0,4g tro, 24mg canxi, 0,7mg sắt, tạo ra 50 kcal năng lượng trong cơ thể. Khi chế biến thành món ăn, rau măng có hương vị thơm ngon, thanh mát, thoảng qua phổi, mang hương vị độc đáo, là món ăn thượng hạng trên bàn tiệc.
Không chỉ giàu dinh dưỡng, rau măng còn có thể dùng làm thuốc. Lý Thời Trân từng đánh giá: "Khử nhiệt độ bạo phát, lợi tiểu, khiến người ngủ, bổ ngũ tạng hư hao". Y học Trung Hoa cho rằng: rau măng vị ngọt, hơi đắng, tính hàn. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lợi tiểu, nhuận tràng, ích khí, dưỡng âm. Chủ yếu dùng để điều trị sốt cao, mê man, đau nhức xương khớp, độc nhiệt ở ruột, tiểu tiện khó khăn, khí hư do thấp nhiệt ở phụ nữ, táo bón hoặc táo bón kinh niên, v.v. Nghiên cứu hiện đại chứng minh rằng rau măng có tác dụng hạ huyết áp, thanh hỏa, kiện vị.
Kháng sinh tự nhiên – Mã đề
Mã đề là một loại rau hoang dã được ghi chép sớm trong các sách cổ, có đóng góp to lớn cho con người. Lá màu xanh, cuống đỏ, hoa vàng, rễ trắng, hạt đen, vì vậy còn gọi là ngũ hành thảo. Do có thể ăn tươi hoặc khô, dùng làm rau hoặc làm lương thực đều được, lại có hiệu quả y học tốt, nên người dân Trung Quốc còn gọi nó là "rau trường thọ", "rau trường mạng".
Các nghiên cứu khoa học hiện đại chứng minh rằng mã đề chứa nhiều noradrenalin, nhiều muối kali, giàu dihydroxyethylamine, acid malic, glucose, canxi, photpho, sắt, cùng các chất dinh dưỡng như caroten, vitamin B, vitamin C. Việc thường xuyên ăn mã đề không chỉ bổ sung dinh dưỡng cho cơ thể mà còn hoàn toàn không lo tăng cholesterol, thực sự là một loại rau sạch và thuốc quý.
Ngoài việc dùng làm rau ăn, mã đề còn có giá trị y học cao vì nó mọng nước, thịt mềm, tính hàn, vị chua, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, cầm tiêu chảy, giảm viêm, giải độc, chữa mụn nhọt. Vì vậy, nó được mệnh danh là "kháng sinh tự nhiên". Thí nghiệm dược lý chứng minh rằng nó có khả năng ức chế mạnh với nhiều loại vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn đại tràng, tụ cầu vàng, v.v. Trong mùa hè thu, nó có thể dùng để điều trị các chứng bệnh như viêm ruột, kiết lỵ, tiểu ra máu, viêm niệu đạo, dị ứng da, viêm da, khí hư đỏ trắng, các loại ung nhọt, mụn nhọt, đau ngực, chảy máu trĩ, vết cắn của rắn độc, lao phổi, v.v.
Món rau mùa xuân tuyệt phẩm – Bạch cước
Bạch cước là cây thân thảo lâu năm thuộc họ Hương phủ, còn gọi là bù sơ, bù thảo, v.v. Hình dạng và đặc điểm của nó được miêu tả sinh động trong bài thơ "Tụng bù": "Lệ lệ thủy thượng bù, kết thủy tán vi châu. Gian nhi thu hàm đạm, nhập xuất xuân phô thù. Sơ mông thực điêu tổ, mộ tuỷ đoản giao đồ. Sở bi đường thượng khúc, túy lạc hoàng kim khu."
Bạch cước mọc hoang ở ven sông, bờ ao, bãi nước nông.
Bạch cước được gọi là "rau kháng Kim", từng có một truyền thuyết cảm động: cuối thời Nam Tống, Liễu Hồng Ngọc tự mình ăn bạch cước bên hồ, thấy rất non, ngọt, giòn, thơm, liền ra lệnh bộ hạ đào lên để thay thế lương thực, cuối cùng đánh bại quân Kim.
Bạch cước có lịch sử ăn uống lâu đời ở Trung Quốc. Trong "Thi Kinh" có câu: "Kỳ súc duy hà? Duy sún cập bù." Trong "Châu lễ" cũng có ghi: "Gia đậu chi thực..." nghĩa là trong đĩa đựng có bạch cước và thịt xà lách. Ngày nay, người ta ăn bạch cước bằng cách lấy phần thân non của bạch cước, bỏ vỏ, ngâm nước, ngày hôm sau có thể ăn được. Có thể xào, hầm, làm nhân bánh, nấu canh, nấu thịt, hợp cả với món mặn và chay. Theo phân tích dinh dưỡng, toàn bộ cây bạch cước chứa nhiều vitamin B1, B2, C. Có tác dụng tán phong thấp, mở trí tuệ. Chủ yếu dùng để điều trị tiểu tiện khó khăn, sữa vú sưng đau, v.v.
Thảo dược rau hoang – Mã lan đầu
Mùa xuân, mã lan đầu mọc lên từ ven đường, đất trống, mang đến hơi thở mùa xuân, tô điểm thêm bữa ăn của chúng ta, mang lại dinh dưỡng và sức khỏe. Minh Lý Thời Trân từng nói: "Mã lan, hồ trạch thấp trũng nhiều chỗ, tháng hai mầm đỏ thân trắng, rễ trắng, lá dài, có răng cưa, người phương Nam thường phơi khô để làm rau và nhân bánh bao." Điều này cho thấy người ta ăn mã lan đầu từ rất lâu.
Mã lan đầu trở thành món ăn ngon trên bàn ăn không chỉ vì ngon miệng mà còn vì giàu dinh dưỡng. Ngoài protein, chất béo, carbohydrate, nó còn chứa nhiều muối vô cơ và vitamin, hàm lượng nhiều thành phần dinh dưỡng vượt xa cà chua. Trong 100g mã lan đầu có chứa 45mg canxi, 69mg photpho, 6,2mg sắt, 513mg kali, đều vượt hơn rau chân vịt, đồng thời hàm lượng oxalat của mã lan đầu thấp hơn rau chân vịt, hấp thu canxi, sắt tốt hơn. Ngoài ra, hàm lượng tiền vitamin A bằng với củ cà rốt, hàm lượng vitamin C gần bằng mức trung bình của trái cây cam quýt.
Mã lan đầu vừa là món rau ngon, vừa có thể dùng làm thuốc. Y học cổ truyền Trung Hoa cho rằng mã lan đầu vị cay, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thanh huyết chỉ huyết, lợi tiểu tiêu thũng. Dùng để điều trị các chứng như đau họng, sưng đau nhọt, viêm mủ, tiểu tiện bất lợi, v.v. Ăn tươi có hiệu quả tốt đối với đau họng, viêm họng cấp tính, viêm amidan, v.v. Dùng nước sắc uống có thể phòng ngừa nhiễm trùng hô hấp trên, viêm kết mạc cấp tính, viêm miệng, viêm nướu, viêm tuyến vú, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc do tăng huyết áp hay đau mắt do glôcôm, v.v. Gần đây, việc dùng mã lan đầu điều trị viêm gan A và kiết lỵ do vi khuẩn cũng cho hiệu quả.
Món bổ máu tuyệt hảo – Rau dền
Rau dền là một loại rau hoang dã có hoa nhỏ màu xanh trắng, còn gọi là "nhân thanh thảo", mọc hoang ở khắp nơi ở Trung Quốc vào mùa xuân và hạ. Người ta thường ăn phần lá non mọc vào mùa xuân. Rau dền sinh trưởng nhanh, mỗi khi mưa xuân rơi, hoặc ở sân trước, sân sau nhà, hoặc ven đường, sân vườn, những cây con non bé nhỏ lại mọc lên từng đám. Lúc này hái lá non nấu ăn, mùi thơm nhẹ, dai mềm, ăn vào dễ chịu, là một món ăn thượng hạng trong mùa xuân.
Rau dền chứa nhiều chất dinh dưỡng, có hàm lượng axit amin cao. Protein, chất béo, canxi và photpho trong rau dền đều cao. Hàm lượng sắt trong rau dền đỏ còn cao hơn rau chân vịt. Y học hiện đại cho biết, do hàm lượng sắt và canxi cao, rau dền là một loại rau tốt cho người thiếu máu, trẻ em sau phẫu thuật, người bị gãy xương. Đặc biệt, người thiếu máu càng nên ăn nhiều. Vì sắt và canxi trong rau dền không bị ảnh hưởng bởi oxalat, nên khả năng hấp thụ cao, không gây tác dụng phụ, giúp quá trình tổng hợp và tái tạo máu tốt hơn.
Rau dền còn có giá trị dược lý cao, được tôn vinh là "rau bổ máu", "rau trường thọ", có thể minh mục trừ tà, thông khiếu, lợi đại tiểu trường, thanh nhiệt giải độc, cầm máu, kháng khuẩn, trị kiết lỵ, tiêu viêm, giảm sưng, dùng để điều trị viêm ruột cấp, kiết lỵ do vi khuẩn, thương hàn, viêm amidan, nhiễm trùng đường tiểu, táo bón, bệnh ký sinh trùng sán, bệnh giun, bướu cổ, ung thư tử cung, v.v. Dùng ngoài có thể chữa vết cắn của bọ cạp, ong, v.v.
Rau dền có thể ăn thường xuyên, nhưng không nên ăn quá nhiều một lúc, nếu không dễ gây viêm da mạn tính. Những người bị rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, tiếng ruột, đi ngoài lỏng nên ăn ít hoặc tạm ngừng ăn.
Món ăn mùa xuân số một – Hẹ
Hẹ, còn gọi là hẹ, xưa gọi là trường sinh hẹ, siêu dư thảo, có người khen nó là "món ăn mùa xuân số một".
Vào đầu mùa xuân, thời tiết rét buốt, các loại rau khác đều héo úa, dân gian đã có tục lệ "thử hẹ vàng trên đĩa xuân". Hẹ nấu ăn có thể dùng làm nguyên liệu chính hoặc phụ gia. Làm nguyên liệu chính, có thể xào riêng hoặc luộc rồi trộn lạnh, màu xanh, thịt mềm. Làm phụ gia, có thể phối hợp với nhiều nguyên liệu động vật, thích hợp để xào, xào nhanh, xào rán, v.v.; khi dùng làm gia vị, hương thơm lan tỏa. Trong các món ăn làm từ bột, có thể dùng làm nhân bánh bao, bánh cuốn, sủi, v.v. Cây hẹ, thịt giòn, có thể xào riêng, trộn lạnh hoặc phối hợp với các nguyên liệu khác. Hoa hẹ có thể muối chua. Hẹ vàng có thể dùng làm nguyên liệu chính hoặc phụ gia, hoặc làm nhân bánh bao, bánh tráng, v.v. Hẹ trở thành món rau chay tuyệt vời trong gia đình, không chỉ thịt mềm, thơm ngon mà còn giàu dinh dưỡng, giá trị dưỡng sinh cao. Nó chứa hàm lượng vitamin A nguyên cao nhất trong các loại rau, cùng với protein, chất béo, đường, canxi, photpho, sắt, vitamin C, chất xơ, dầu bay hơi và hợp chất lưu huỳnh. Trong "Bổ thảo thập di" của y học cổ truyền Trung Hoa viết: "Loại thực phẩm này rất ấm, bổ dưỡng cho con người". Trong "Bổ thảo kinh tập chú" nói: "Sống thì cay, hành huyết; nấu chín thì ngọt, bổ trung, ích can, tán uất, dẫn ứ". Vì vậy, ăn hẹ một cách hợp lý hàng ngày không chỉ có thể chữa các chứng như chấn thương do té ngã, nghẹn, buồn nôn, nôn ra máu, đau tức sườn, mà còn có thể bổ can thận, ấm lưng gối, kích thích sinh dục. Các chuyên gia y học khuyên dùng hẹ là món ăn dưỡng sinh tốt cho những người mắc các chứng như liệt dương, khí hư nhiều, tiểu nhiều, đau lưng, yếu chân, v.v. Ngoài ra, hẹ chứa nhiều vitamin A nguyên, có tác dụng dưỡng phổi, dưỡng da, phòng ngừa cảm cúm do phong hàn và mù đêm. Chất dầu bay hơi và hợp chất lưu huỳnh trong hẹ có thể tăng khẩu vị, sát khuẩn. Trong các phương pháp dưỡng sinh dân gian, thường dùng hẹ vàng xào tôm, ăn để cải thiện chức năng sinh lý nam giới; hoặc nghiền nước hẹ tươi, uống với nước ấm, dùng để chữa viêm dạ dày – ruột; hoặc ăn nhiều hẹ nấu chín mềm, có thể ngăn ngừa táo bón, chữa tình trạng nuốt phải dị vật kim loại. Tuy nhiên, người có nhiệt hư, rối loạn tiêu hóa nên ăn ít.
/ Rau dược mùa xuân dưỡng sinh
Bài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Rau dược mùa xuân dưỡng sinh

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]