Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức Đông y / Đông – Tây y kết hợp điều trị nhiễm trùng đường ruộtBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Đông – Tây y kết hợp điều trị nhiễm trùng đường ruột

Thương hàn là bệnh truyền nhiễm đường ruột cấp tính do vi khuẩn Salmonella typhi gây ra, đặc điểm bệnh lý cơ bản là nhiễm trùng huyết kéo dài, hệ lưới bào mô bị ảnh hưởng, viêm mủ nhỏ ở ruột hồi xa và hình thành loét. Biểu hiện lâm sàng điển hình bao gồm sốt kéo dài, đau bụng, táo bón hoặc tiêu chảy, gan – lách to, bạch cầu giảm. Một số bệnh nhân có phát ban dạng hồng ban và nhịp tim chậm. Người bệnh và người mang vi khuẩn đều là nguồn lây, mầm bệnh được thải ra ngoài qua phân, nước tiểu, nôn mửa, trực tiếp hoặc gián tiếp ô nhiễm nước hoặc thực phẩm, gây lây lan bệnh. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng nhiều nhất vào mùa hè và thu. Sau khi khỏi bệnh thường có miễn dịch lâu dài. Bệnh này thuộc phạm vi “Thấp nhiệt” trong học thuyết Nhiễm bệnh Đông y.
Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn Salmonella typhi. Khi vi khuẩn này theo thực phẩm bị nhiễm xâm nhập vào đường tiêu hóa, chúng sinh sôi và phát triển ở ruột nhỏ. Vi khuẩn sinh sôi mạnh trong túi mật, liên tục thải vào ruột qua mật. Vi khuẩn tồn tại lâu dài trong túi mật có thể khiến bệnh nhân trở thành người mang vi khuẩn mạn tính, thường kèm theo viêm túi mật mạn tính, là nguồn lây chính của bệnh thương hàn. Một phần thải ra ngoài qua phân, một phần xâm nhập lại vào tổ chức thành ruột qua niêm mạc ruột gây hoại tử và loét.
Theo quan niệm Đông y, tà khí thấp nhiệt xâm nhập qua miệng và mũi, chủ yếu tích tụ ở vị – thái âm, gây tổn thương. Giai đoạn đầu bệnh chủ yếu là do thấp tà che kín vệ khí. Thấp nhiệt ức chế bề mặt cơ thể thì thấy đau đầu, sợ lạnh, cơ thể nặng nề, đau nhức, sốt không rõ ràng, gọi là chứng vệ phân; tổn thương vị – thái âm, vận hóa suy giảm, thấp tà tích tụ, chặn khí cơ, thì thấy ngực đầy, bụng trướng, lưỡi dày bết, gọi là chứng khí phân. Giai đoạn đầu dù thấp có nhiệt, nhưng đa số là thấp nặng hơn nhiệt. Người có thể chất dương khí cường thì tà hóa nhiệt, bệnh diễn biến về dương minh vị; người có thể chất dương khí hư thì tà hóa hàn, bệnh diễn biến về thái âm tỳ. Bệnh ở thái âm thì thấp nặng, nhiệt nhẹ; bệnh ở dương minh thì thấp nhẹ, nhiệt nặng. Thấp nhiệt hóa táo, hóa hỏa, có thể sâu vào dưỡng huyết, huyết mạch bị tổn thương thì xuất hiện ban, xuất huyết, nếu xuất huyết quá nhiều thì khí theo huyết thoát, dương khí thoát ra ngoài. Nhiệt lâu ngày sẽ tổn hao âm dịch, xuất hiện chứng tà khứ chính suy, dư tà chưa sạch.
(I) Biểu hiện lâm sàng
Thời gian ủ bệnh thường từ 7-15 ngày. Thời gian tự nhiên của thương hàn điển hình chưa điều trị kéo dài khoảng 4 tuần, chia làm 4 giai đoạn:
1. Giai đoạn đầu: Phần lớn bệnh nhân khởi bệnh âm thầm, chậm rãi, có đau đầu, đau cơ, chán ăn, buồn nôn. Ban đầu sốt có dạng dao động, sau đó tăng dần theo hình bậc thang. Mỗi ngày tăng khoảng 1℃; nhịp tim tăng song song với sốt. Đau bụng âm ỉ, thường có đầy bụng, táo bón. Một số ít có tiêu chảy nhẹ đến trung bình và chảy máu cam. Đến cuối tuần thứ nhất, có thể sờ thấy gan – lách.
2. Giai đoạn cực kỳ: Sau 5-7 ngày, sốt cao kéo dài ở mức 39-40℃, kéo dài 2-3 tuần. Có dạng sốt ổn định hoặc dao động. Bệnh nhân cực kỳ mệt mỏi, thần trí đờ đẫn, phản ứng chậm. Có thể xuất hiện mê sảng, hôn mê, tiêu chảy nhiều, phân có thể có máu, bụng đầy, đau hoặc đau khi ấn, vùng hạ vị phải rõ nhất. 30-40% bệnh nhân có nhịp tim chậm tương đối. 1/3-3/4 bệnh nhân có gan – lách to, gan – lách to nhiều hơn. Một số bệnh nhân có phát ban hồng ban, phân bố rải rác ở ngực trước và vùng thượng vị, kích thước 2-5mm, màu đỏ sẫm, ấn vào nhạt màu, hơi cao hơn da, số lượng thường dưới 20, sau 2-4 ngày biến mất nhưng có thể tái phát. Chức năng gan thường tăng transaminase. Có thể có rối loạn đông máu nội mạch lan rộng (DIC), viêm màng não giả.
3. Giai đoạn giảm nhẹ: Vào cuối tuần thứ ba, sốt bắt đầu giảm dần, tình trạng bệnh bắt đầu cải thiện.
4. Giai đoạn hồi phục: Sau tuần thứ tư, sốt dần trở lại bình thường, triệu chứng và dấu hiệu cũng dần biến mất, nhưng phục hồi trạng thái toàn thân mất khoảng một tháng.
5. Tái phát và tái phát: Tái phát là khi các biểu hiện lâm sàng của bệnh xuất hiện lại sau 1-2 tuần khỏi bệnh, nuôi cấy máu đã âm tính lại dương tính. Điều này thường liên quan đến suy giảm sức đề kháng cơ thể, vi khuẩn tiềm ẩn trong túi mật, tủy xương, hạch lympho mạc treo, hoặc tế bào đại thực bào sinh sôi mạnh, tái xâm nhập vào vòng tuần hoàn máu. Tái phát là khi sốt giảm dần nhưng chưa bình thường thì lại tăng trở lại, kéo dài 5-7 ngày mới bình thường. Trong thời gian này, nuôi cấy máu thường dương tính, cơ chế xảy ra tương tự như tái phát.
(II) Biến chứng
1. Xuất huyết đường ruột: Trong quá trình bệnh, phân có máu nhìn thấy bằng mắt chiếm 10-20%, nhưng xuất huyết đường ruột nghiêm trọng chỉ khoảng 2%, thường xảy ra ở tuần thứ 2-3, cũng có thể xảy ra trong giai đoạn hồi phục. Bệnh nhân thường trong quá trình cải thiện tình trạng toàn thân, huyết áp hoặc sốt đột ngột giảm, mạch tăng nhanh, xuất hiện phân có máu. Gần đây, tỷ lệ xuất huyết đường ruột đã giảm rõ rệt.
2. Thủng ruột: Sau khi dùng kháng sinh, tỷ lệ thủng ruột giảm xuống còn 1-2%, thường xảy ra ở đoạn cuối ruột hồi, thường gặp ở tuần thứ 2-3. Trước khi thủng ruột thường có đầy bụng, tiêu chảy, xuất huyết đường ruột. Khi thủng ruột xảy ra, bệnh nhân đột ngột cảm thấy đau bụng, cơ bụng co cứng, các dấu hiệu viêm phúc mạc. Giới hạn gan có thể mất. Chụp X-quang bụng có thể thấy khí tự do.
3. Viêm tim độc tính: Thường xảy ra ở giai đoạn cực kỳ, biểu hiện là nhịp tim nhanh, tiếng tim I yếu, nhịp chạy, huyết áp giảm. Điện tim có thay đổi như khoảng P-R kéo dài, thay đổi sóng T, dịch chuyển đoạn ST, các thay đổi tổn thương tim.
4. Bệnh não độc tính: Mê man hoặc nửa mê, ý thức mơ hồ, mê sảng, một số biểu hiện co cơ hoặc rung giật, liên quan đến nội độc tố ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh ở nhân nền. Thường gặp ở tuần thứ 1-2, cũng có thể gặp ở giai đoạn hồi phục hoặc sau bệnh hai tháng.
5. Hội chứng tan huyết – thận độc: Thường gặp ở tuần thứ 1-3. Bệnh nhân có thiếu máu, vàng da nhẹ, nước tiểu có màu như nước thịt. Trường hợp nghiêm trọng có thể sốc, suy thận cấp. Hiện nay cho rằng nguyên nhân liên quan đến trạng thái miễn dịch bất thường của cơ thể. Cũng có ý kiến cho rằng do nội độc tố hoặc phức hợp miễn dịch gây tổn thương nội mạc mạch máu cầu thận, dẫn đến đông máu nội mạch và suy thận cấp.
6. Viêm gan độc tính: 25-50% bệnh nhân bị ảnh hưởng gan. Ngoài vi khuẩn, nội độc tố, còn liên quan đến phức hợp miễn dịch và tác dụng bổ thể. Bệnh nhân thương hàn đồng thời có biểu hiện lâm sàng viêm gan, gan to hoặc chức năng gan bất thường, khi tình trạng thương hàn cải thiện, trong vòng 2 tuần sẽ phục hồi, đây là đặc điểm của biến chứng bệnh này.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]