Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lý viêm mạn tính phổ biến ở khớp. Theo khảo sát sơ bộ, tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp tại Trung Quốc là 0,3%, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất ở độ tuổi 20–40. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là viêm đa khớp, thường ảnh hưởng đến các khớp nhỏ ở tay và chân, bệnh diễn tiến dai dẳng, tái phát. Biến đổi bệnh lý chính là viêm mạn tính của màng hoạt dịch khớp, hình thành màng sinh mạch, tổn thương sụn và xương dưới sụn, cuối cùng dẫn đến dị tật khớp, cứng khớp và mất chức năng. Ngoài biểu hiện rõ rệt là tổn thương nhiều khớp, bệnh còn thường gặp các tổn thương ở các cơ quan nội tạng quan trọng khác ngoài khớp, trong đó tổn thương đường tiêu hóa là phổ biến nhất, lâm sàng thường biểu hiện là buồn nôn, nôn, chán ăn, ợ chua, đau bụng, đi ngoài phân lỏng... Những tổn thương này vừa liên quan đến quy luật phát bệnh, vừa liên quan đến điều trị không đúng cách; hơn nữa, tổn thương đường tiêu hóa nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc điều trị mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng tổng thể và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Trong cơ chế bệnh sinh của "viêm khớp dạng thấp", theo y học cổ truyền, tỳ vị là gốc sau thiên, khí huyết là nguồn sinh hóa, tỳ hư đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát bệnh viêm khớp dạng thấp (gọi tắt là "viêm khớp dạng thấp"). ① Tỳ khí suy hư, vận hóa bất thường, rối loạn chuyển hóa nước, ứ đọng thủy thấp, lâu ngày thành đàm, gây ra chứng đàm thấp thịnh. ② Tỳ khí suy hư, sinh hóa thiếu nguồn, dẫn đến khí huyết hư. ③ Tỳ khí suy hư, vệ ngoại bất cố, dễ bị ngoại tà đặc biệt là thấp tà xâm nhập, càng làm tổn thương tỳ vị. ④ Thấp tính dính nhớt, tích tụ lâu ngày sinh ứ, ứ trệ kinh lạc khiến khí huyết vận hành không thông suốt, dẫn đến đàm thấp kết hợp với ứ huyết. Đàm ứ kết hợp, tắc nghẽn kinh lạc, tăng nặng ứ huyết ở khớp, gây đau khớp, sưng khớp tái phát dai dẳng hoặc xuất hiện u cục, bầm tím quanh khớp. ⑤ Thấp tà thường kết hợp với hàn, nhiệt, hàn tính đông đặc, xâm nhập kinh mạch, khiến máu lưu thông chậm, thậm chí đông lại tắc nghẽn; nhiệt tà xâm nhập huyết, đốt nóng máu khiến máu lưu thông cản trở thành ứ; khí hư, đẩy máu không đủ lực, lâu ngày thành ứ. Đàm thấp lâu ngày kết hợp với ứ huyết tạo thành đàm ứ kết hợp. Vì vậy, kiện tỳ hòa vị là chìa khóa điều trị "viêm khớp dạng thấp". Biến chứng đường tiêu hóa ở "viêm khớp dạng thấp" – tổn thương khớp hàm mặt: khó ăn, khó nuốt. Khoảng 30% bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" được xác nhận qua đo áp lực thực quản rằng chức năng vận động thực quản có vấn đề, nhu động đoạn dưới 2/3 thực quản giảm, chức năng van thực quản cuối kém, do đó bệnh nhân thường xuyên có triệu chứng ợ nóng, trào ngược. Viêm dạ dày mạn tính nông, viêm dạ dày teo và loét tiêu hóa thường được cho là liên quan đến việc dùng thuốc chống viêm giảm đau, rối loạn tiết axit dạ dày. Loét tiêu hóa hay gặp ở người cao tuổi trên 60, phần lớn là loét dạ dày, thường xảy ra ở vùng đáy dạ dày. Khác với loại loét tiêu hóa thông thường (thường gặp loét tá tràng), loét dạ dày thường gặp ở vị trí góc nhỏ dạ dày. Bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" thường không có đau bụng trên điển hình, nhiều trường hợp thậm chí không có triệu chứng đau bụng, dễ gây chảy máu hoặc thủng. Viêm ruột thiếu máu hoặc tắc ruột: những bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" nặng có thể do viêm mạch gây ra, dẫn đến rối loạn vận động ruột non. Khi tổn thương ở ruột non, thường xuất hiện đau bụng, đầy bụng, tiêu chảy hoặc táo bón. "Viêm khớp dạng thấp" cũng có thể ảnh hưởng đến đại tràng và trực tràng, dẫn đến thay đổi hình dạng phân. Viêm tụy và viêm túi mật: một số bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" có thể mắc phải, chức năng gan cũng có thể có rối loạn nhẹ đến trung bình, gan có mỡ nhẹ và tăng sinh mô liên kết. Pháp kiện tỳ điều trị "viêm khớp dạng thấp" Khôi phục tỳ, trừ thấp: quan hệ giữa tỳ và thấp rất mật thiết. Thấp có phân biệt bên ngoài và bên trong, thấp bên ngoài gọi là thấp tà, liên quan đến thời tiết môi trường, cũng có thể do ăn uống lạnh, đều do tỳ hư, thấp tà xâm nhập. Bệnh do thấp bên ngoài (bao gồm chứng tý) đều có nguyên nhân nội tại là tỳ hư. Thấp bên trong là do chính bản thân tỳ hư sinh ra. Do tỳ không kiện vận, chức năng chuyển hóa ngũ cốc thành tinh vi hoặc vận hóa dịch thể suy giảm, dịch thể ứ đọng, tự sinh thấp. Bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" có biểu hiện rõ ràng về thấp, vì vậy việc dùng pháp kiện tỳ để trừ thấp là rất quan trọng. Bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" thường có các triệu chứng như mệt mỏi toàn thân, nặng nề cơ thể, tê liệt chi thể, ngực đầy, chán ăn, buồn nôn, đầy bụng... Đây đều là biểu hiện của chứng thấp. Ngay cả khi các triệu chứng này không rõ rệt, chỉ có phù chi thể, sưng khớp, cũng là biểu hiện của thấp, vẫn cần kiện tỳ để hóa thấp. Khôi phục khí, bổ tỳ: tỳ có mối liên hệ quan trọng với chức năng miễn dịch. "Tỳ chủ vận hóa", "Tỳ là gốc hậu thiên", "Tỳ mạnh không bị tà xâm nhập" nghĩa là tỳ có thể liên tục vận chuyển tinh vi ngũ cốc đến khắp các cơ quan, giúp duy trì hoạt động sinh lý bình thường, có thể vận chuyển chân khí, vệ khí, nguyên khí đến toàn thân. Người tỳ khí suy hư thường có biểu hiện rối loạn chức năng miễn dịch, các thí nghiệm trên mô hình động vật chứng minh rằng trong các dược liệu kiện tỳ bổ khí, hoàng kỳ, đảng sâm, linh chi, bạch truật đều có thể nâng cao sức đề kháng cơ thể. Chức năng hệ miễn dịch của bệnh nhân "viêm khớp dạng thấp" có khuyết điểm, mặc dù dùng thuốc điều chỉnh miễn dịch trong y học hiện đại có hiệu quả nhất định, nhưng số lượng thuốc lựa chọn ít, chi phí cao, phản ứng phụ lớn. Y học cổ truyền có tiềm năng rất lớn ở đây, ví dụ như các dược liệu bổ khí kiện tỳ như hoàng kỳ đã được chứng minh có thể thúc đẩy cơ thể sản sinh interferon; đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, phục linh có thể thúc đẩy chuyển hóa tế bào lympho, kích thích hệ lưới nội mô. Một số người cho rằng các dược liệu kiện tỳ bổ khí có thể thuộc nhóm thuốc kích thích miễn dịch.
|