Viêm tụy mạn tính gần đây có xu hướng gia tăng rõ rệt, thường gặp ở những người hay ăn uống quá mức, thích đồ ăn béo, rượu nhiều, cũng có thể do yếu tố tinh thần gây ra, một số ít trường hợp nguyên nhân chưa rõ. Thường do viêm tụy cấp tính tái phát hoặc kéo dài dẫn đến tắc nghẽn ống tụy, hoặc do ngộ độc rượu mạn tính. Một, điểm chẩn đoán Dấu hiệu tiêu hóa kém kéo dài, gầy yếu, đau thượng vị tái phát, lan ra lưng, hai bên sườn, vai gáy, thường do uống rượu, ăn no hoặc lao động quá sức gây ra. Amylase huyết thanh và nước tiểu tăng cao, trong phân có bóng mỡ. Nếu các triệu chứng này loại trừ các bệnh đường tiêu hóa khác, có thể chẩn đoán lâm sàng. Có thể chụp X-quang tuyến tụy, siêu âm và xét nghiệm nội tiết để hỗ trợ chẩn đoán. Hai, điều trị theo chứng bệnh 1. Chứng nhiệt tích ở ruột và dạ dày Khí ngoại tà nhập vào trong cơ thể hóa nhiệt, hoặc ăn quá nhiều đồ cay nóng, chất béo, thấp nhiệt và thực tích giam giữ, tích tụ bên trong, khí cơ không thuận, đại tràng không thông. Triệu chứng lâm sàng: đau bụng đầy, đau tức, buồn nôn, nôn mửa, miệng khô, táo bón. Lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng khô, mạch hoạt sốt. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt hóa thấp, thông lý hạ hạ. Dùng phương Thanh Tụy Thang hợp Đại Thừa Khí Thang gia giảm: Sài Hồ 10g, Chỉ Khắc 10g, Hoàng Cần 12g, Hoàng Liên 6g, Bạch Thược 12g, Mộc Hương 6g, Ngân Hoa 30g, Huyền Hồ 12g, Sinh Đại Hoàng (sau hạ) 10g, Mạch Nha (rót vào) 10g, Hậu Bổ 12g. 2. Chứng thấp nhiệt ở gan – mật Khí ngoại tà xâm nhập hoặc ăn uống thất điều, dẫn đến thấp nhiệt tích tụ ở gan – mật, làm mất chức năng thư tiết, điều hòa. Triệu chứng lâm sàng: đau vùng thượng vị, hai bên sườn, chán ăn đồ dầu mỡ, sốt, buồn nôn, mệt mỏi, nặng nề, hoặc vàng da. Lưỡi bẩn vàng, mạch hoạt sốt. Phương pháp điều trị: sơ can tả mật, thanh nhiệt lợi thấp. Dùng phương Thanh Tụy Thang hợp Long Đởm Tả Can Thang gia giảm: Long Đởm Thảo 15g, Nhân Trần 30g, Sinh Sơn Chi 15g, Sài Hồ 15g, Hoàng Cần 12g, Hồ Hoàng Liên 10g, Bạch Thược 12g, Mộc Hương 6g, Sinh Đại Hoàng (sau hạ) 10g, Tiền Kim Thảo 30g, Dưỡng Dĩ Nhân 30g, Thương Trụ 10g, Táo Tam Tiên mỗi thứ 10g. 3. Chứng tỳ hư thực trệ Thể chất vốn yếu tỳ vị, lại do ăn uống quá mức, tỳ vận hóa không kịp, ruột và dạ dày bị tổn thương, thực tích đình trệ, khí cơ mất điều hòa. Triệu chứng lâm sàng: đầy tức vùng thượng vị, ăn kém, sau ăn đầy bụng khó chịu, tiêu chảy, phân có mùi hôi hoặc chưa tiêu hóa hết thức ăn, da vàng, gầy yếu, mệt mỏi. Lưỡi nhạt, phình to, lớp lưỡi trắng, mạch yếu. Phương pháp điều trị: kiện tỳ hóa tích, điều hòa khí cơ. Dùng phương Thanh Tụy Thang hợp Chỉ Thực Hóa Trị Hoàn gia giảm: Táo Bạch Truật 20g, Táo Tam Tiên mỗi thứ 15g, Phục Linh 20g, Chỉ Thực 10g, Ngân Hoa 30g, Hoàng Cần 10g, Sài Hồ 10g, Trạch Tuyết 20g, Trần Bì 10g, Dưỡng Dĩ Nhân 30g, Mộc Hương 6g. 4. Chứng huyết ứ nội kết Lâu bệnh nhập lạc, dẫn đến huyết ứ nội kết, khí cơ không thông. Triệu chứng lâm sàng: đau vùng thượng vị, bụng tăng nặng, vị trí cố định, có thể sờ thấy khối u ở vùng thượng vị hoặc sườn trái, hình ảnh X-quang hoặc siêu âm phát hiện có canxi hóa hoặc áp xe ở tuyến tụy. Lưỡi tím tối hoặc có vết bầm, điểm bầm, mạch tế. Phương pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ, lý khí chỉ thống. Dùng phương Thiếu Phủ Chư Uất Thang gia giảm: Hương Phụ 10g, Nguyên Hồ 15g, Mẫu Bồ 10g, Đương Quy 10g, Xuyên Khung 10g, Xích Thược 10g, Bồ Hoàng 15g, Ngũ Linh Chi 10g, Sài Hồ 10g, Dưỡng Dĩ Nhân 30g, Hoàng Cần 10g, Đan Shen 30g. Ba, trường hợp điển hình Ví dụ 1: Trương Thị, nữ, 52 tuổi, khám lần đầu ngày 23 tháng 4 năm 2000. Thể trạng béo phì, 5 năm trước mắc viêm túi mật mạn tính, sỏi túi mật, do tái phát nên ngày 17 tháng 6 năm 1999 đã phẫu thuật cắt bỏ túi mật, hồi phục bình thường rồi xuất viện, nửa năm sau do lao động quá sức bắt đầu cảm thấy đầy bụng, đau nhói vùng trung vị lan ra sườn trái, ăn đồ dầu mỡ càng nặng hơn, phân lỏng hôi. Ngày 9 tháng 4 năm 2000 do đau thượng vị tăng nặng, buồn nôn, nôn mửa phải nhập viện. Amylase huyết thanh là 229μ (phương pháp Westermark), CT cho thấy vùng quanh đầu tụy khoảng 4–5cm có hình ảnh mờ, chẩn đoán là viêm tụy mạn tính. Sau điều trị bảo hộ Tây y, triệu chứng cải thiện không rõ ràng, yêu cầu điều trị bằng Đông y. Bệnh nhân tinh thần mệt mỏi, mặt phù, đau nhói âm ỉ vùng thượng vị, lúc nhẹ lúc nặng, ăn uống khó nuốt, đau vùng rốn rõ rệt, có thể sờ thấy khối u độ cứng vừa, lớp lưỡi trắng bết, mép có dấu răng rõ, hai bên có vết bầm rõ, tĩnh mạch dưới lưỡi nổi rõ, mạch hư mà tế, chẩn đoán là chính khí hư, huyết ứ. Hiện tại cấp cứu là bổ chính, trước tiên dùng phương pháp kiện tỳ hòa vị. Phương: Chích Đảng Sâm 15g, Chích Bạch Truật 15g, Phục Linh 20g, Gừng Ban Hạ 9g, Gừng Can 3g, Phật Thủ 12g, Chích Mạch Nghi 15g. Sau khi dùng 6 thang, ăn ngon dần, tỳ vận mạnh lên, đau nhói vùng thượng vị, sườn giảm nhẹ, lớp lưỡi trắng bết phần trước mỏng hơn, vết bầm mép vẫn còn, mạch nhu, sâu lấy thì tế. Đây là biểu hiện huyết phủ có ứ, điều trị nên kết hợp kiện tỳ ích khí với Huyết Phủ Chư Uất Thang, dùng hơn 10 thang, đau biến mất, sau đó điều chỉnh theo chứng bệnh hơn một tháng, các triệu chứng đều bình phục. Ví dụ 2: Trần Thị, nam, 35 tuổi. Ngày 19 tháng 6 năm 2001 do ăn uống quá mức, đêm hôm đó khoảng 11 giờ do đau bụng cấp nhập viện cấp cứu, chẩn đoán Tây y là viêm tụy cấp. Sau điều trị, ngày 28 yêu cầu hội chẩn Đông y. Bệnh nhân mặt vàng nhợt, đau vùng thượng vị, sườn như dao cắt, kim châm, ăn một chút thức ăn dạng nửa lỏng cũng đầy bụng muốn nôn, đại tiện 3–4 ngày một lần, lượng ít, phân lỏng hôi. Lưỡi bẩn vàng dày, mép và đỉnh đỏ, có dấu răng, mạch trầm tế. Siêu âm cho thấy vùng quanh đầu tụy mờ, chẩn đoán là viêm túi mật mạn tính kèm sỏi dạng cặn. Đây là do ăn uống quá mức, uống rượu, thấp nhiệt tích tụ ở gan – mật – dạ dày – ruột, chức năng lên xuống mất cân bằng. Điều trị bằng phương pháp sơ can lợi mật, hạ hạ. Phương: Nhân Trần 30g, Táo Sơn Chi 12g, Chế Đại Hoàng 6g, Hoàng Cần 12g, Tiền Kim Thảo 30g, Sài Hồ 9g, Xuyên Liễm Tử 9g, Gừng Ban Hạ 12g, Trúc Như 10g, Sinh Cam Thảo 6g. Sau khi dùng 5 thang, đại tiện ra phân đen xanh dạng bùn, sau đó vài ngày triệu chứng biến mất nhanh chóng. Kiểm tra siêu âm lại cho thấy: sỏi cặn túi mật không còn rõ, hình ảnh đầu tụy dần rõ ràng. Sau đó tiếp tục dùng các phương pháp hạ hạ, sơ can, kiện tỳ, dưỡng vị điều trị theo chứng bệnh, sau 2 tuần điều trị hiệu quả, xuất viện. Nhắc nhở bệnh nhân không được ăn uống quá mức, ăn đồ béo, ngọt, rượu nhiều. Theo dõi hơn một năm, không tái phát. Bốn, kinh nghiệm Bệnh lý này thường do hư thực xen kẽ, nhưng có sự nhấn mạnh. Trường hợp thiên về thực, thấp nhiệt gan – mật, dạ dày mất hòa, điều trị nên thanh can lợi mật, hòa vị hạ hạ, trọng điểm là thông lý, nhưng hiệu quả đạt được nhờ phương pháp dưỡng can kiện tỳ dưỡng vị; trường hợp thiên về hư, tỳ hư gan tranh, khí huyết ứ trệ, điều trị nên bổ tỳ dưỡng can, ích khí khu ứ, hiệu quả đạt được nhờ phương pháp kiện tỳ dưỡng can, ích khí khu ứ. Nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy thuốc Đông y trong điều trị viêm tụy có thể phát huy nhiều tác dụng, trong đó Đại Hoàng, Hoàng Liên, Hoàng Cần, Bạch Thược có thể ức chế hoạt tính men tụy; Đại Hoàng, Ngân Hoa, Liên Kiều, Hoàng Cần, Hoàng Liên, Bồ Công Anh ngoài tác dụng kháng khuẩn còn có tác dụng kháng nội độc tố rõ rệt; Đại Hoàng, Đan Bì, Xích Thược, Diên Hồ Tố có thể cải thiện tuần hoàn vi mạch, tăng lượng máu lưu thông đến tuyến tụy; Đại Hoàng còn có tác dụng ức chế đau rõ rệt; Sài Hồ, Mộc Hương, Diên Hồ Tố có tác dụng lợi tụy.
,Other,phương thuốc dân gian, toàn tập phương thuốc dân gian" />