Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền Trung Hoa / Chẩn đoán và điều trị theo y học cổ truyền đối với cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ timBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Chẩn đoán và điều trị theo y học cổ truyền đối với cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim

Cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim có biểu hiện lâm sàng rất giống với các triệu chứng do tâm dương bất trấn, khí trệ huyết ứ gây ra trong y học cổ truyền Trung Hoa. Do đó, y học cổ truyền xếp loại bệnh này vào phạm vi "thư bế", "tâm thống", "quyết tâm thống", "chân tâm thống" v.v. Dưới đây sẽ trình bày chẩn đoán và điều trị theo y học cổ truyền đối với bệnh này.
1 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Bệnh này chủ yếu do chức năng tạng phủ suy giảm ở người trung niên và cao tuổi, ăn uống nhiều mỡ, thức ăn giàu chất béo tổn thương tỳ vị, hoặc do thất tình nội thương dẫn đến khí trệ, huyết ứ, đàm trọc nội sinh, làm mạch lạc không thông, không thông thì đau, dẫn đến bệnh phát sinh [1]. Theo "Kim Quí Yếu Lược – Bệnh chứng và phương pháp điều trị bệnh thư bế, tâm thống, đoản khí": "Thư bế" chủ yếu biểu hiện là ngực nghẹt, đau tim, thở ngắn, nguyên nhân bệnh lý chính là do "dương khí" vùng ngực cực kỳ hư tổn; do đó, trong lâm sàng thường gặp chứng bệnh vừa hư bản, vừa thực biểu [2]. Bản hư chủ yếu là hư khí tạng; biểu thực chủ yếu là huyết ứ, đàm trọc. Khí tạng hư chủ yếu là tâm khí hư. Tâm khí hư có thể tiến triển thành tâm dương bất túc, dương khí tổn thương, động lực yếu, dương thanh không phát, huyết hành trì trệ, không thông thì đau. Bệnh đau tim chủ yếu ở tim, gốc rễ ở thận. Thận là cơ sở tiên thiên, tim và thận liên kết với nhau qua kinh lạc. Thận âm bất túc, không thể lên dưỡng tâm, âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt kết ở bên trong, đun nấu máu thành ứ trệ, chặn ở mạch tim, tim không được nuôi dưỡng, dẫn đến đau tim; thận dương bất túc, tim không được ấm, cũng có thể dẫn đến tâm dương bất túc, động lực yếu, hình thành ứ trệ. Huyết ứ, đàm trọc, trong đó huyết ứ chiếm đa số, vì các yếu tố như hàn đình, nhiệt kết, đàm trọc, khí trệ, khí hư đều có thể gây ứ trệ mạch máu, dẫn đến chứng ứ huyết. Huyết ứ lưu lại không tan, mạch tim không thông, nên đau như dao cắt, như dây thừng siết, đau ở vị trí cố định.
2 Chẩn đoán và điều trị theo chứng
Theo biểu hiện lâm sàng của cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim, có thể phân thành hai loại chính dựa trên thực hư: chứng thực và chứng hư [3]. Về điều trị, tuân theo nguyên tắc "thực thì tả, hư thì bổ"; khi cơn đau thắt ngực xảy ra, chủ yếu là chứng thực, nên điều trị trước theo dấu hiệu; khi cơn đau dịu đi, chủ yếu là chứng hư, nên điều trị theo gốc; khi thực hư xen kẽ, tùy theo mức độ ưu tiên của thực và hư, có thể điều chỉnh phù hợp.
2.1 Chứng đàm trọc tắc nghẽn: Biểu hiện là ngực đầy tức như bị nén, đau, hoặc đau lan ra vai gáy, chi thể nặng nề, thể hình béo phì, lưỡi bợt, mạch hoạt. Điều trị: Thông dương hóa đàm, phương dùng Qua Lâu Tuyêu Bạch Bán Hạ Thang gia giảm (Qua Lâu, Bán Hạ, Diên Hồ Sắc, Trúc Khắc mỗi thứ 12g, Thạch Xương Bồ, Đan Sâm mỗi thứ 15g, Tuyêu Bạch, Quế Chi, Bổ Bối, Trần Bì mỗi thứ 10g). Mỗi ngày 1 thang, sắc uống.
2.2 Chứng khí trệ huyết ứ: Biểu hiện là đau ngực như dao cắt, hoặc đau như xoắn, ngực đầy tức, thở ngắn, tim đập loạn nhịp, môi và lưỡi có vết bầm tím hoặc thâm, mạch细涩 hoặc rối loạn. Điều trị: Lý khí hoạt huyết thông lạc, phương dùng Huyết Phủ Chư Ứ Thang gia giảm (Đào Nhân, Hồng Hoa, Trúc Khắc mỗi thứ 10g, Đương Quy Vĩ, Xích Thược, Dục Kim, Diên Hồ Sắc, Cát Căn mỗi thứ 12g, Xuyên Khung, Đan Sâm mỗi thứ 15g). Mỗi ngày 1 thang, sắc uống.
2.3 Chứng khí âm tâm hư: Biểu hiện là ngực đầy tức nhẹ, đau thỉnh thoảng, tim đập mạnh, thở dốc, da mặt nhợt nhạt, mệt mỏi, nói ít, chóng mặt, mắt mờ, lưỡi đỏ hoặc có răng cắn, mạch tế yếu. Điều trị: Dưỡng khí dưỡng âm, phương dùng Sinh Mạch Tán gia giảm (Tử Đậu Nhân 18g, Mạch Môn, Dục Kim, Viễn Chí mỗi thứ 12g, Bạch Thược, Đan Sâm, Bạch Linh, Hà Thủ Ô mỗi thứ 15g, Ngũ Vị Tử 10g, Dạ Giao Tênh 20g). Mỗi ngày 1 thang, sắc uống.
2.4 Chứng tâm thận âm hư: Biểu hiện là ngực đầy tức và đau, tim đập, ra mồ hôi ban đêm, lo âu, ngủ không yên, chóng mặt, ù tai, lưng gối mềm, lưỡi đỏ, lớp lưỡi ít, mạch tế số. Điều trị: Dưỡng tâm bổ thận, phương dùng Tả Quy Ẩm gia giảm (Thục Địa 18g, Sơn Trúc Dư, Hoài Sơn Dược, Cẩu Kỷ Tử, Đan Sâm mỗi thứ 15g, Bạch Linh, Mạch Môn, Táo Nhân, Tri Thấp, Quy Bàn Giáp mỗi thứ 12g). Mỗi ngày 1 thang, sắc uống.
3 Ví dụ bệnh án
Bệnh nhân nam, 58 tuổi, khám lần đầu ngày 15 tháng 7 năm 1991. Có tiền sử bệnh tim thiếu máu cơ tim 3 năm, từng nhập viện 2 lần do đau thắt ngực. Thường xuyên có thói quen ăn đồ cay chua, hút thuốc, uống rượu. Lần này đau ngực như dao cắt, điện tim cho thấy thiếu máu vùng trước tim, sau điều trị tại viện đã giảm nhẹ. Khám thấy ngực đầy tức, thở ngắn, uống nước thì buồn nôn, nôn mửa, đại tiện 2 ngày chưa đi, lưỡi đỏ, lớp lưỡi trắng bợt, mạch hoạt số. Tổng hợp bốn phương diện chẩn đoán, đây là do đàm thấp trung tổn, khí trệ huyết ứ, điều trị: thông dương hóa đàm, hành khí hoạt huyết, phương dùng Qua Lâu Tuyêu Bạch Bán Hạ Thang gia giảm: Qua Lâu, Đan Sâm, Dục Kim mỗi thứ 15g, Bạch Linh, Sơn Tra mỗi thứ 18g, Tuyêu Bạch, Hồng Hoa, Cát Hồng, Cam Thảo mỗi thứ 6g, Đào Nhân, Hương Phụ, Đương Quy mỗi thứ 10g. 5 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc lại, chia 2 lần uống.
Khám lần hai: Đau ngực không tái phát, ngực đầy tức giảm, đại tiện vẫn khô cứng; da mặt xanh xao, lưỡi đỏ, lớp lưỡi mỏng bợt vàng nhẹ, mạch hoạt mà căng. Phương dùng: Qua Lâu, Đan Sâm, Bạch Linh mỗi thứ 15g, Tuyêu Bạch, Hồng Hoa, Cát Hồng, Đại Hoàng, Cam Thảo mỗi thứ 6g, Đào Nhân, Đương Quy mỗi thứ 10g, Táo Nhân 12g. 5 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc lại, chia 2 lần uống.
Khám lần ba: Ngực không còn đầy tức, đại tiện thông, lưỡi nhạt, lớp lưỡi trắng mỏng, mạch căng tế. Điện tim cho thấy thiếu máu nhẹ vùng trước tim. Dùng: Tử Đậu Nhân, Hoài Sơn Dược, Đan Sâm mỗi thứ 25g, Mạch Môn, Táo Nhân, Hỏa Ma Nhân mỗi thứ 15g, Đương Quy, Đào Nhân mỗi thứ 10g, Hồng Hoa, Cam Thảo mỗi thứ 6g. 10 thang. Theo dõi 2 tháng, tình trạng ổn định.
4 Kinh nghiệm
Cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim là một bệnh khó chữa. Không chỉ là tổn thương cục bộ ở tim, mà còn ảnh hưởng đến các tạng phủ khác, do đó trong lâm sàng phải chẩn đoán kỹ lưỡng, tuyệt đối không được thiên lệch. Trong điều trị, không chỉ chú ý đến khu vực tim, mà còn phải xem xét điều trị toàn diện cho các tạng phủ khác [4]. Chỉ khi kiên trì áp dụng pháp điều trị bồi chính ích khí, hóa đàm khử ứ thông mạch suốt quá trình điều trị, cải thiện thể chất toàn thân, mới có thể đạt hiệu quả tối ưu trong điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim.
Ngoài điều trị, sắp xếp công việc và cuộc sống hợp lý, chú ý cân bằng lao động và nghỉ ngơi, tham gia vận động thể chất vừa phải, giữ tinh thần thoải mái, tránh kích thích tinh thần, hạn chế ăn quá nhiều chất béo động vật và thực phẩm giàu cholesterol, bỏ thuốc lá, rượu… là những yếu tố then chốt không thể bỏ qua trong phòng ngừa và điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim.
Tài liệu tham khảo
1 Lâm Nghiêm Thạch. Một vài lời bàn về chẩn đoán và điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim. Tạp chí Y học cổ truyền mới, 1991, 23(1): 53.
2 Lý Thiên Bảo. Tình hình gần đây về điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim bằng y học cổ truyền Trung Hoa. Tạp chí Y học cổ truyền mới, 1992, 24(6): 51.
3 Lục Trung Tín. Khởi thảo về nguyên nhân, bệnh lý và phân loại chứng cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim. Tạp chí Y học cổ truyền mới, 1994, 26(tạp chí tăng thêm): 13.
4 Đàm Quốc Bác. Tổng quan về chẩn đoán và điều trị cơn đau thắt ngực do bệnh tim thiếu máu cơ tim trong 10 năm gần đây. Tạp chí Y học cổ truyền mới, 1995, 27(4): 57.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]