Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Thực phẩm thuốc / / Bài dưỡng sinh vào tiết khí Cốc Vũ trong 24 tiết khíBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Bài dưỡng sinh vào tiết khí Cốc Vũ trong 24 tiết khí

Cốc Vũ, cửu chỉ Quý. Hoàng kinh mặt trời là 15 độ. Công lịch mỗi năm khoảng đầu tháng Tư là tiết khí Cốc Vũ. Cốc Vũ có nghĩa là “mưa nước sinh trăm hạt”, là tiết khí thứ sáu trong 24 tiết khí, cũng là tiết khí cuối cùng của mùa xuân. Người xưa thường nói: “Thanh Minh đoạn tuyết, Cốc Vũ đoạn sương”, nhiệt độ trung bình ở phần lớn khu vực Trung Quốc đều trên 12 độ. Sau Cốc Vũ, nhiệt độ tăng nhanh, từ ngày này trở đi, lượng mưa bắt đầu tăng, mưa dồi dào giúp cây lúa mới cấy, cây trồng mới gieo được tưới nước, ngũ cốc phát triển tốt. Bèo nước trong ao bắt đầu sinh sôi, cây dâu cũng đâm chồi lá xanh non, chính là lúc người nuôi tằm bắt đầu bận rộn. Lúc này, trà xuân cũng bắt đầu thu hoạch vào thời điểm này, ở vùng Nam Giang, từ đồi núi đến đỉnh cao, khắp nơi đều thấy những người hái trà mồ hôi toát, đang vội vã thu hoạch trà, gia đình người hái trà cũng bận rộn chế biến trà, mùi thơm trà lan tỏa khắp núi rừng và làng mạc. Sản xuất nông nghiệp sau Cốc Vũ đã bước vào thời kỳ bận rộn. Vì vậy, nắm bắt thời cơ, chăm sóc tỉ mỉ, chú ý thay đổi thời tiết, trồng trọt kịp thời, không bỏ lỡ thời vụ là điều quan trọng quyết định thu hoạch mùa thu.
Sau tiết Cốc Vũ, lượng mưa tăng, độ ẩm trong không khí dần tăng, vì vậy trong điều dưỡng dưỡng sinh, chúng ta không thể tách rời khỏi quỹ đạo thay đổi môi trường tự nhiên, thông qua điều tiết bên trong cơ thể để nội môi trường (sự thay đổi sinh lý bên trong cơ thể) thích nghi với ngoại môi trường (môi trường tự nhiên bên ngoài), duy trì chức năng sinh lý bình thường.《Tố Vấn·Bảo Mệnh Toàn Hành Luận》nói: “Nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thời chi pháp thành.” Nghĩa là con người sinh ra giữa thiên địa, được hình thành theo quy luật bốn mùa. Điều này nói rằng sự thay đổi trong tự nhiên chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội môi trường của cơ thể con người, duy trì sự cân bằng hài hòa giữa nội và ngoại môi trường là cơ sở để tránh và giảm thiểu bệnh tật. Vì vậy, trong điều dưỡng dưỡng sinh, cần xem xét yếu tố tiết Cốc Vũ, lựa chọn điều dưỡng phù hợp với đặc điểm khí hậu của nó.
Sau tiết Cốc Vũ là thời kỳ phát bệnh của các chứng đau thần kinh, như đau thần kinh liên sườn, đau thần kinh坐骨, đau thần kinh tam chi... Xin nhắc nhở các bạn, khi phát bệnh không nên lo lắng, tùy theo nguyên nhân khác nhau mà điều trị đúng phương pháp.
Đối với đau thần kinh liên sườn, thường là một triệu chứng tự giác phổ biến, biểu hiện là đau một bên hoặc hai bên sườn. Y học cổ truyền Trung Hoa gọi là “hiệp thống”.《Linh Khúc·Ngũ Tà》nói: “Tà tại can, thì hai bên sườn đau.”《Tố Vấn·Tạng Khí Pháp Thời Luận》nói thêm: “Can bệnh giả, nhị hiệp hạ thống dẫn thiếu phúc.” Về nguyên nhân và cơ chế bệnh lý, can nằm ở sườn, mạch của nó phân bố ở hai bên sườn, vì vậy khi can bị bệnh, thường xuất hiện triệu chứng đau sườn. Hơn nữa, can là tạng phong mộc, tính thích điều hòa, ghét uất ức. Nếu gặp tình cảm uất ức, khí can không được thư giãn, mạch lạc bị tắc, khí huyết vận hành không thông suốt, đều có thể gây đau sườn. Nếu khí can uất ức lâu ngày, khí trệ sinh huyết ứ, hoặc do té ngã, chấn thương, gây huyết ứ tắc nghẽn mạch lạc, cũng có thể dẫn đến đau sườn do huyết ứ. Dù là nguyên nhân nào, căn bản đều liên quan đến khí can không thư giãn, vì vậy trong điều trị đều không thể bỏ qua nguyên tắc tán can hành khí, hoạt huyết thông lạc.
Đau thần kinh坐骨 là đau dọc theo đường đi của thần kinh坐骨 và vùng phân bố của nó. Thường biểu hiện ở vùng mông, phía sau đùi, phía sau gót chân, cảm giác đau như bỏng rát hoặc như kim châm, nghiêm trọng có thể đau như dao cắt, đau tăng khi vận động. Bệnh này thuộc phạm vi “bế chứng” trong y học cổ truyền Trung Hoa, “bế” có nghĩa là tắc nghẽn không thông. Nguyên nhân không ngoài phong, hàn, ẩm xâm nhập vào kinh lạc, khiến khí huyết kinh lạc bị tắc nghẽn. Theo triệu chứng lâm sàng, có thể chia thành bốn loại: Loại chủ yếu do phong, đau di chuyển, gọi là “hành bế”; Loại chủ yếu do hàn, đau dữ dội, gọi là “đau bế”; Loại chủ yếu do ẩm, biểu hiện đau nhức, tê bại, nặng nề, gọi là “trụ bế”; Loại phát bệnh đột ngột, kèm theo sốt, gọi là “nhiệt bế”. Những người mắc bệnh đau thần kinh坐骨 đều phải căn cứ vào bốn loại trên, phân biệt chứng, điều trị theo chứng, để thông kinh lạc khí huyết, khu phong, tán hàn, hóa ẩm, khiến khí huyết điều hòa, bế chứng được giải.
Đau thần kinh tam chi là đau dữ dội, ngắn hạn, cục bộ ở một vùng mặt nhất định. Bệnh này thường xảy ra ở một bên mặt, vùng trán, hàm trên hoặc hàm dưới. Đau đột ngột, kiểu điện giật, như dao cắt, khó chịu. Tuổi phát bệnh thường ở người trung niên trở lên, nữ giới mắc nhiều hơn. Nguyên nhân và cơ chế bệnh lý thường do phong hàn xâm nhập vào kinh lạc mặt, khiến kinh lạc co rút, khí huyết vận hành bị cản trở, dẫn đến đau đột ngột.《Tố Vấn·Cử Thống Luận》nói: “Hàn khí nhập kinh mà trì trệ, lệ mà bất hành, khách ư mạch ngoại tắc huyết thiểu, khách ư mạch trung tắc khí bất thông, cố tột nhiên nhi thống.” Ngoài ra, do khí can uất kết, uất mà hóa hỏa, ăn uống không điều độ, thực tích sinh nhiệt, hỏa can vị thượng xung vào mặt, hoặc do thể chất âm hư, sinh hoạt tình dục quá độ tổn thương tinh, dẫn đến âm hư hỏa vượng, gây ra bệnh này. Ngoài ra, bệnh răng, miệng, tai mũi họng cũng có thể gây ra bệnh này. Trong quá trình điều trị, cần tìm hiểu nguyên nhân, phân biệt chứng bệnh. Đối với người nhiễm phong hàn, cần tập trung vào thông khí huyết; đối với người có hỏa can vị, cần hạ hỏa can vị; đối với người âm hư hỏa vượng, nên dùng phương pháp bổ âm hạ hỏa. Châm cứu có hiệu quả tốt đối với bệnh này.
Thời tiết tiết Cốc Vũ dù chủ yếu là nắng ấm, nhưng buổi sáng và buổi tối vẫn có lúc lạnh lúc nóng, người ra ngoài sớm hoặc về muộn cần đặc biệt cẩn thận bảo vệ bản thân, tránh những đau khổ không đáng có.
Điều dưỡng ăn uống tiết Cốc Vũ nên thể hiện quan niệm “thiên nhân tương ứng, thực dược nhất thể” về dinh dưỡng, đặc biệt đối với người mắc các chứng bệnh trên, khi chọn thực đơn dưỡng sinh không được dùng sai công thức. Dưới đây liệt kê một số món ăn thuốc phổ biến:
Canh súp nhân sâm hấp cá chép:
[Nguyên liệu] Cá chép 1000 gram, Đảng sâm 10 gram, Đương qui 5 gram, thịt heo hun khói 150 gram, muối, rượu nấu, hạt tiêu, gừng, hành, hạt nêm vừa đủ, nước hầm gà 500 gram.
[Cách làm] Đảng sâm, Đương qui rửa sạch ngâm ướp, thái lát; cá chép làm sạch, bỏ nội tạng, rửa sạch, dùng nước sôi ngâm sơ, vớt ra, cạo lớp nhớt, chặt đầu đuôi, thái thành đoạn dài 6 cm; thịt heo hun khói thái thành miếng lớn, gừng, hành rửa sạch thái lát, thái đoạn.
Cho nước vào nồi, cho một nửa gừng, hành, rượu nấu đun sôi, cho đoạn cá chép vào đun sơ, vớt ra, cho vào bát hầm, đặt thịt heo hun khói, Đảng sâm, Đương qui lên trên, thêm hành, gừng, rượu nấu, hạt tiêu, muối, rót nước hầm gà vào, dùng giấy bông ẩm bịt kín miệng nồi, đậy nắp, hấp khoảng 1 giờ đến khi chín, vớt ra, mở nắp, vớt gừng, hành ra, thêm hạt nêm, nêm nếm là được.
[Công dụng] Ôn bổ khí huyết, kiện cốt cường gân, hoạt huyết thông lạc. Dùng nhiều cho đau nhức do phong hàn thấp gây ra.
Canh cá chép hoa cúc:
[Nguyên liệu] Cá chép sống to 1 cân (hai con), đường trắng 2 lượng, xì dầu 1 lượng, bột năng khô 1 lượng, rượu, giấm trắng, muối, hành, gừng, bột năng ẩm, dầu mè, tỏi băm vừa đủ, dầu thực vật 2 cân.
[Cách làm] Cá chép giết mổ, mổ bụng, bỏ nội tạng, bỏ xương, bỏ da, thái thành miếng dài 2 tấc 5 phân, dùng dao cắt nghiêng từ đầu, cắt đôi (cuối không cắt đứt), rồi cắt thành sợi (một đầu không cắt đứt), thêm rượu, muối, hành, gừng ngâm lên; sau đó từng miếng rắc bột năng khô; cho xì dầu, đường trắng, giấm trắng, bột năng ẩm vào bát, thêm nước vừa đủ trộn thành nước sốt.
Đun nóng chảo, đổ dầu 1 cân, đun đến 8 thành nhiệt, cho cá chép rắc đều vào chảo, chiên đến vàng đều, vớt ra đĩa, để lại ít dầu trong chảo, cho tỏi băm xào thơm, cho nước sốt đã trộn vào, đun sôi, rưới dầu mè lên, đổ lên món cá hoa cúc là được.
[Công dụng] Bổ hư tổn, trừ phong thấp, kiện cốt cường gân. Rất thích hợp với người thể lực yếu, phong thấp, bệnh trĩ.
Canh ba màu:
[Nguyên liệu] Mầm đậu nành 2 lượng, gừng băm 20 gram, ớt đỏ lớn 1 quả, dầu thực vật, giấm trắng, bột năng ẩm, nước dùng, muối, dầu mè, hạt nêm vừa đủ.
[Cách làm] Đun nóng chảo, cho mầm đậu nành xào sơ, cho giấm trắng xào đến chín 8 thành, vớt ra để riêng; cho nước dùng vào chảo, thêm gừng băm, đun sôi, cho ớt đỏ vào, đun sôi lại, cho mầm đậu nành, muối vào, dùng bột năng ẩm hồ hóa, rưới dầu mè lên, vớt ra là được.
[Công dụng] Khử phong trừ thấp, hoạt huyết thông lạc. Rất thích hợp với người bị cứng cơ, đau nhức xương khớp.
Lưu ý: Người bị phong hàn thấp kiêng ăn quả thị, bánh thị, dưa hấu, rau mùi, dưa leo sống, cua, ốc, hàu, tảo biển... các thực phẩm lạnh, tính mát; người bị nhiệt bế kiêng ăn hạt tiêu, quế, ớt, hạt tiêu, gừng, hành trắng, rượu trắng...

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]