Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Phòng nội khoa / Loại tiết niệu / Điều trị táo bónBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Điều trị táo bón

Khi điều trị táo bón bằng y học cổ truyền Trung Hoa, người ta áp dụng nguyên tắc phân biệt chứng bệnh, trị bệnh theo bản chất. Các phương pháp điều trị chính bao gồm: đối với chứng thực thì thanh nhiệt thông hạ hoặc hành khí dẫn trệ; đối với chứng hư thì bổ khí dưỡng huyết hoặc sinh tân nhuận táo, hoặc ôn thông khai táo.
1. Nếu xuất hiện đại tiện khô cứng, khó đi, thời gian đi đại tiện kéo dài, kèm theo hơi thở hôi, miệng đắng, bực bội dễ giận dữ, đầy bụng, kém ăn, tiểu ngắn đỏ thì thuộc chứng nhiệt táo. Phương pháp điều trị là tả nhiệt thông phủ hoặc thanh nhiệt nhuận tràng. Dùng phương thuốc Điều Vị Thừa Khí Thang (Đại hoàng, Mang tiêu, Cam thảo) để tả nhiệt thông phủ; dùng Ma Tử Nhân Hoàn (Đại hoàng, Chi thực, Hậu bổ, Mạch nhân, Tỳ bà nhân, Bạch thược, Bạch mật) để thanh nhiệt nhuận tràng. Nếu đại tiện khô, đi khó, chảy máu trĩ, có thể thêm Địa du, Hoài hoa; nếu đầy bụng, kém ăn, có thể tăng Đại phúc bì, Giao tứ tiên; nếu mắt đỏ, miệng đắng, mạch huyền sác có thể phối hợp dùng Căn Văn Hoàn hoặc Đương qui Lư Hội Hoàn.
2. Nếu xuất hiện đại tiện khô cứng hoặc không khô, muốn đi nhưng không đi được, đại tiện không thông suốt, mỗi khi tâm trạng không tốt thì táo bón nặng hơn, kèm theo ngực sườn đầy tức, bụng đau tức thì thuộc chứng khí táo. Phương pháp điều trị là thuận khí hành khí. Dùng phương thuốc Lục Ma Thang (Chi thực, Mộc hương, Ô dược, Thầm hương, Bính lang, Đại hoàng). Ngoài ra, tùy theo tình trạng bệnh có thể phối hợp thêm Chi tử, Quả bí quyên, Mạch nhân, Tỳ bà nhân, Xích thược.
3. Nếu người già thể yếu hoặc người bệnh lâu năm, dù có cảm giác muốn đi đại tiện nhưng cố gắng rặn mà vẫn yếu, đại tiện khó khăn, phân không khô, sau khi đi đại tiện ra mồ hôi, thở gấp thì thuộc chứng khí hư táo bón. Phương pháp điều trị là kiện tỳ bổ khí. Dùng phương thuốc Hoàng kỳ thang (Hoàng kỳ, Cam thảo, Trần bì, Mạch nhân, Bạch mật). Nếu khí hư sa, trực tràng rơi xuống, muốn đi vệ sinh nhưng rặn mãi không ra, có thể thêm Thăng ma, Sâm bạch.
4. Nếu sau sinh hoặc sau phẫu thuật, phân khô như viên bi, số lần đi đại tiện bình thường nhưng khó đi, kèm theo chóng mặt, tim hồi hộp, da mặt nhợt nhạt thì thuộc chứng huyết hư táo bón. Phương pháp điều trị là dưỡng huyết nhuận táo. Dùng phương thuốc Nhũ trường hoàn (Đương qui, Sinh địa, Mạch nhân, Hỏa mễ nhân, Trúc khê). Nếu kèm theo lưng đau mỏi, kinh nguyệt ít, màu nhạt thì thêm Chế thố u, Nhục dung dung.
5. Nếu đại tiện rất khó, không thể đẩy ra, phân hoặc khô hoặc không khô, sợ lạnh, tay chân lạnh, bụng có cảm giác lạnh đau, hoặc đau lưng, đau thắt lưng thì thuộc chứng dương hư lãnh táo. Phương pháp điều trị là ôn thông khai táo. Dùng phương thuốc Ký Xuyên Gian (Đương qui, Nhục tùng dung, Ngưu tất, Thăng ma, Trúc khê, Trạch tả), có thể thêm Thố u, Hạt hồ đào, Nhục quế. Nếu âm hàn nặng, có thể dùng bán lưu hoàn.
Ngoài các phương thuốc trên, các đơn phương, bài thuốc dân gian cũng thường mang lại hiệu quả tốt, ví dụ như Bồ công anh, Thảo quyết minh, Sinh bạch truật, Lai phục tử.
Điều trị táo bón bằng thuốc tây có ưu điểm là tiện lợi khi sử dụng. Theo cơ chế thúc đẩy đại tiện, thuốc tây được chia thành ba loại:
Loại thứ nhất là thuốc nhuận tràng kích thích. Loại thuốc này và sản phẩm chuyển hóa của nó tác động trực tiếp lên thành ruột, làm tăng nhu động ruột, từ đó thúc đẩy phân được thải ra. Ví dụ như Viên dẫn đường, Dầu mù tạt, Đại hoàng. Loại thuốc này là thuốc thường được bệnh nhân tự dùng khi bị táo bón, tuy nhiên nếu dùng lâu dài có thể gây tác dụng phụ là giảm nhạy cảm của ruột, do đó không nên dùng thường xuyên.
Loại thứ hai là thuốc nhuận tràng loãng, còn gọi là thuốc tăng thể tích. Loại thuốc này ngăn cản ruột hấp thu nước, làm tăng thể tích nội dung ruột. Đồng thời, chúng khó hấp thu khi uống vào, tạo áp suất thẩm thấu cao trong ruột, làm tăng lượng nước và khối thức ăn. Do thể tích lớn, ruột bị giãn ra, kích thích cơ học làm tăng nhu động ruột và thúc đẩy đại tiện. Loại thuốc này bao gồm Magie sunfat, Natri sunfat (Mang tiêu).
Loại thứ ba là thuốc nhuận tràng nhờn. Ví dụ như dầu parafin, dầu ăn. Loại thuốc này có thể bôi trơn thành ruột, làm mềm phân, giúp phân dễ đi ra. Dầu parafin uống hoặc nhỏ vào hậu môn không bị hấp thu, đồng thời có thể ngăn cản hấp thu nước trong ruột. Là chất nhuận tràng lý tưởng, nhưng có hiện tượng dầu bám bẩn quần áo, dùng lâu dài có thể ảnh hưởng đến hấp thu vitamin A, D, K cũng như canxi, phốt pho.
Đối với các loại thuốc nhuận tràng này, có thể lựa chọn dùng tùy theo thời gian tác dụng. Thuốc tăng thể tích có tác dụng nhanh, uống xong 4-6 giờ sẽ đi đại tiện dạng nước, thường kèm theo đau bụng, dùng chủ yếu cho táo bón cấp tính, táo bón dai dẳng, không nên dùng lâu dài, sau khi uống nên uống nhiều nước. Thuốc nhuận tràng kích thích có tác dụng chậm, nên uống trước khi ngủ, sau 6-8 giờ mới đi đại tiện. Thuốc nhuận tràng nhờn phù hợp với người già yếu, mỗi tối trước khi ngủ uống 10-20 ml dầu parafin, sáng hôm sau thức dậy đi đại tiện, giúp hình thành phản xạ đi đại tiện đúng giờ.
Trong thai kỳ và thời kỳ kinh nguyệt, thường chống chỉ định dùng thuốc nhuận tràng mạnh. Với các bệnh lý cơ cấu đường ruột, như tắc ruột, thường không dùng thuốc nhuận tràng.
Lưu ý khi dùng thuốc nhuận tràng:
1. Vì các loại thuốc nhuận tràng có cơ chế khác nhau, trước khi dùng phải hiểu rõ tính chất, cách dùng, liều lượng và chống chỉ định của từng loại thuốc để tránh sai sót. Đồng thời cần lựa chọn thuốc phù hợp với mục đích cụ thể. Nếu để làm sạch ruột thì dùng thuốc mạnh; nếu để tả nhiệt thông tiện thì dùng thuốc khổ hàn; nếu để nhuận tràng thông tiện thì chỉ cần dùng thuốc nhuận tràng thông tiện.
2. Vì mỗi loại thuốc nhuận tràng đều có tác dụng phụ khác nhau, nên nói chung không nên dùng lâu dài. Nếu cần dùng kéo dài, nên thay đổi thường xuyên loại thuốc, vì các loại thuốc có tính chất và cơ chế khác nhau, luân phiên dùng có thể làm giảm tác dụng phụ.
3. Khi dùng thuốc nhuận tràng nên bắt đầu từ liều thấp nhất. Cơ thể con người có khả năng thích nghi và chịu đựng thuốc, nếu dùng lâu dài thì hiệu quả sẽ giảm dần, ví dụ viên dẫn đường ban đầu chỉ cần 1 viên đã hiệu quả, nhưng dùng lâu dài có thể phải tăng lên đến 10 viên mới thấy tác dụng. Nếu tăng liều quá mức sẽ làm tăng tác dụng phụ, do đó khi dùng thuốc nhuận tràng cần bắt đầu từ liều thấp nhất. Nếu sau khi uống thuốc thấy tiêu chảy thì chứng tỏ liều quá cao, lần sau nên giảm liều; ngược lại, nếu sau khi uống thuốc phân vẫn khô thì cần tăng dần liều hoặc đổi loại thuốc.
4. Lưu ý thời gian uống thuốc. Thuốc nhuận tràng nên uống một lần vào buổi tối trước khi ngủ, sáng hôm sau thức dậy đi đại tiện, điều này phù hợp hơn với thói quen đi đại tiện bình thường, giúp cải thiện táo bón. Thông thường, sau khi uống thuốc, cần mất một khoảng thời gian mới có đại tiện. Thời gian này khác nhau tùy loại thuốc và liều lượng, cũng như độ nhạy cảm của từng người. Có người uống thuốc mà chưa đến thời gian đi đại tiện đã vội tăng liều, dẫn đến tiêu chảy, ngược lại bất lợi.
Tóm lại, do tác dụng của thuốc nhuận tràng và độ nhạy cảm của cơ thể khác nhau, trong quá trình dùng thuốc có thể quan sát hiệu quả để tìm ra liều lượng phù hợp với từng người, sao cho đại tiện không quá khô cũng không quá lỏng, vừa không tiêu chảy vừa không khô cứng là đạt hiệu quả lý tưởng nhất.
Đối với táo bón mãn tính, có thể dùng liệu pháp châm cứu, lấy huyệt Thiên khu, Chi giao, Thượng câu hư. Chứng thực dùng kỹ thuật tả, chứng hư dùng kỹ thuật bổ, chứng hàn thêm kỹ thuật cứu. Đối với chứng dạ dày ruột nhiệt, phối hợp huyệt Khúc trì, Hợp cốc, Xích trạch, Nội đình; chứng gan khí uất, phối hợp huyệt Thái xung, Dương linh tuyền, Khí hải; chứng khí hư, phối hợp huyệt Tỳ du, Vị du, Đại trường du, Túc tam lý; chứng huyết hư, phối hợp huyệt Tam âm giao, Chiếu hải; chứng thận dương hư, phối hợp huyệt Thận du, Khí hải, Thần khê. Cũng có thể dùng hành lá cắt nhỏ, giã nát, thêm một ít giấm, đảo nóng, đắp lên huyệt Thần khê (vùng rốn), có hiệu quả nhất định.
<Điều trị táo bón>

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]