Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền / Ứng dụng liệu pháp thông lợi trong các bệnh nhiệt nhiệtBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Ứng dụng liệu pháp thông lợi trong các bệnh nhiệt nhiệt

Đau nhiệt là tổng danh của nhiều bệnh nhiệt tính, bao gồm nhiều bệnh nhiệt cấp tính truyền thống, cũng như các bệnh nhiễm trùng có biểu hiện ở vệ, khí, dinh, huyết nhưng không thuộc nhóm bệnh truyền nhiễm cấp tính, ví dụ như nhiễm khuẩn huyết. Trương Trọng Cảnh đưa ra bốn phương pháp thải độc tố là tán, thanh, thổ, hạ đối với các bệnh nhiệt tính lây nhiễm; Lưu Hà Gian đề xuất dùng phương pháp tân lương để giải biểu lý song giải khi khởi phát bệnh nhiệt; Trương Tử Hòa cho rằng dùng thuốc hạ đúng cách có thể thay thế tác dụng bổ dưỡng; Mạc Đại Minh Ngô Hữu Khả chỉ ra: “Dịch bệnh cần loại trừ tà khí là việc cấp bách, đuổi tà không cần phải chờ phân kết.” Đài Bắc Sơn nói: “Bệnh dịch thời tiết, bất luận biểu tà đã hết hay chưa, chỉ cần thấy chứng lý là nên hạ.” Câu nói “dùng hạ không sợ sớm” chính bắt nguồn từ đây, điều này có ý nghĩa hướng dẫn quan trọng đối với các bác sĩ hậu thế trong điều trị bệnh nhiệt.Một, Tác dụng và nguyên tắc ứng dụng liệu pháp thông lợi trong bệnh nhiệt nhiệtKhi dùng liệu pháp thông lợi trong bệnh nhiệt nhiệt, mục đích chính là đào thải tà nhiệt, còn việc hạ tích trệ, tiêu trừ thực trệ là thứ yếu. Ngô Hữu Khả nói: “Chứng cần hạ mà thấy không có phân kết, cho rằng hạ quá sớm hoặc cho rằng không cần hạ mà dùng sai thuốc hạ, hoàn toàn không hiểu rằng thành khí bản chất là để đào thải tà khí, chứ không phải vì phân kết mà lập ra. Nếu phải đợi đến khi phân kết mới hành hạ, máu bị nhiệt lực kích thích, biến chứng liên tiếp xảy ra, giống như nuôi hổ để lại họa, lỗi của thầy thuốc. Hơn nữa, rất nhiều trường hợp phân kết không được hạ, chỉ lên men thành mùi hôi cực kỳ nặng như tương mốc, hoặc như bùn sen, đến lúc chết vẫn không kết. Chỉ cần bài tiết được chất bẩn, tà độc sẽ tiêu tan, chứng trạng và mạch sẽ thuyên giảm, chẳng lẽ cứ mãi chờ phân kết mới hành động sao? Cần biết rõ, tà nhiệt gây khô cứng, chứ không phải khô cứng gây tà nhiệt... Tóm lại, tà là gốc, nhiệt là ngọn, phân kết là ngọn trên ngọn. Nếu sớm loại bỏ tà, thì sợ gì khô cứng?" Lời nói này diễn đạt rất rõ ràng về tầm quan trọng và tính cần thiết của liệu pháp thông lợi trong bệnh nhiệt nhiệt! Nhưng cũng không thể tùy tiện, lạm dụng, phải hạ đúng thời điểm, đúng phương pháp, căn cứ vào khẩn cấp, hư-thực mà cân nhắc độ phù hợp, mới có thể phát huy hiệu quả đặc biệt.Tỳ tà ở khí phần nếu không giải biểu bên ngoài, chắc chắn sẽ dẫn đến kết ở dương minh, tà nhiệt ứ đọng, dễ hóa khô tổn thương âm, do đó việc áp dụng sớm liệu pháp thông lợi là rất hợp lý. Việc hạ không chỉ nhằm tiêu trừ thực trọc, mà còn trọng điểm là bảo tồn âm, giữ nước. Liễu Bảo Trị nói: “Vị là hải của ngũ tạng lục phủ, nằm ở trung thổ, rất giỏi dung nạp, tà nhiệt xâm nhập vị thì không còn lan truyền nơi khác, vì vậy bệnh nhiệt nhiệt nhiệt kết ở vị, được công hạ mà giải quyết được, chiếm tới sáu bảy phần.” Điều này chứng minh đầy đủ vị trí quan trọng của liệu pháp thông lợi trong điều trị bệnh nhiệt nhiệt.Liệu pháp thông lợi có thể nhanh chóng bài tiết tà nhiệt, độc tố, đây là một con đường quan trọng để thanh nhiệt, trừ tà. Dù tà ở khí, ở dinh, hay giữa biểu lý, miễn là cơ thể khỏe mạnh, hoặc không có dấu hiệu tỳ hư tả nhão, hoặc có chứng hạ, hoặc nhiệt cực sinh phong, cuồng loạn co giật, đều có thể thông hạ, trừ uế, tả nhiệt giải độc, dùng các phương như thành khí thang, thăng giáng tán, hoặc thêm mạn tiêu, đại hoàng vào phương chữa theo chứng, điều này không phải là đổ nước nóng để dập lửa, mà là đốt lửa dưới nồi – tức là vừa tả được tà nhiệt vô hình, vừa loại bỏ được thực trọc hữu hình, một mũi tên trúng hai đích, thật sự là phương pháp trị bản. Tuy nhiên, nếu thuần túy là chứng biểu ở vệ, lạnh rõ rệt mà nhiệt không quá nặng, hoặc người già thể yếu, phụ nữ mang thai hoặc đang trong chu kỳ kinh nguyệt, thì nên thận trọng sử dụng.Hai, Ví dụ ứng dụng1. Viêm não Nhật BảnViêm não Nhật Bản khởi bệnh đột ngột, diễn biến nhanh, biểu hiện ở vệ phần rất khó nhận biết, khi đi khám thường thấy chứng khí dinh giao nhau, hoặc khí huyết cùng bốc cháy. Chỉ cần không có biểu hiện biểu chứng rõ rệt, mà tà nhiệt đã dần vào lý, xuất hiện sốt cao mê man, cuồng loạn phong động, hoặc có bụng đầy, đại tiện bí, đều nên dùng liệu pháp thông lợi “cấp hạ tồn âm”, để tà có đường thoát, đây là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng. Mục đích dùng liệu pháp thông lợi là đào thải tà nhiệt, bảo tồn âm dịch, do đó không nhất thiết phải dùng khi bí đại tiện, nhưng nếu có chứng nhiệt cực như hỏa, hoặc nhiệt thịnh động phong, đều có thể dùng, sau khi hạ thường thấy thân nhiệt giảm dần, co giật giảm nhẹ, thần chí tỉnh táo, di chứng ít hơn. Phương pháp phòng ngừa sớm, tấn công trước khi bệnh phát, có thể rút ngắn thời gian điều trị, ngăn ngừa hình thành phù não, hôn mê não. Ví dụ, trước khi hình thành phù não, giai đoạn đầu có thể thấy mắt cầu nhẹ phù, lưỡi to, ngay lập tức uống giảm lợi thang, có thể ngăn ngừa hiện tượng này. Giáo sư Giang Xuân Hoa đề xuất quan điểm “cắt đứt, chuyển hóa”; danh y Nghiêm Thanh Sơn đưa ra ba biện pháp điều trị bệnh nhiệt (bảo não, bảo dịch, bảo trường), chủ trương “ở vệ phải thanh khí, ở khí phải chú ý thanh huyết, để tránh truyền biến là bậc thầy”, dựa vào thực tiễn lâm sàng, phần lớn bệnh nhiệt có thể ngăn chặn truyền biến, chấm dứt phát triển và chuyển sang khỏi bệnh.Trần, nam, 8 tuổi. Bệnh viêm não Nhật Bản nhập viện đã hơn một tuần, sốt cao mê man, cổ cứng, co giật, nói mê, co giật tăng nặng trong 4 ngày gần đây, phân tích suốt một tuần, bụng cứng đầy, hơi nóng nhưng chỉ ra mồ hôi đầu, lưỡi vàng mỏng, dày, mạch sâu thực, sốt. Hư tà mùa hè kèm ẩm, kết hợp với tích trệ ăn uống, ứ đọng ở dương minh vị phủ, thiêu đốt tâm bào dẫn đến mê man, tắc nghẽn khiếu. Cần cấp tốc thông hạ tà nhiệt tích trệ, phối hợp hóa ẩm khử uế, bình can tư phong, mong muốn đại tiện thông, tích trệ tiêu, nhiệt giảm, khiếu mở. Phương: Đại hoàng sống 9g (sau hạ), Mạn tiêu 6g (rửa riêng), Toàn tê sống 1,5g (nghiền nuốt), Câu đằng (sau hạ), Thanh hao mỗi thứ 15g, Cát căn, Sương côn, Bạc hương, Tế thảo mỗi thứ 9g, Cam thảo 3g. 2 liều, uống hết trong ngày chia 4 lần. Ngày hôm sau đại tiện thông, bài tiết 4 lần phân đen hôi, thần trí dần tỉnh, các chứng giảm rõ. Giữ nguyên phương, giảm Mạn tiêu, Đại hoàng tiếp tục dùng, để dập tắt dư tà. Sau 3 ngày tình trạng ổn định, tự nguyện ra viện. Bệnh nhân ban đầu đã dùng liều lớn Bạch hổ thang và tiêm thuốc chống co giật, hạ sốt, nhưng tình trạng ngày càng nặng, sau đó dùng phương pháp thông lợi làm chủ, thông lợi đào thải độc tố, tạo đường thoát cho tà. Trường hợp mê man này do nhiệt mãnh liệt ở dương minh gây ra, vì vị lạc nối với tim. Bệnh ở khí chứ không ở dinh, cần phân biệt rõ.Ở giai đoạn cực kỳ của viêm não Nhật Bản, thường xuất hiện đàm thấp tắc khí cơ, che khuất tâm khiếu, sốt kéo dài, mê man co giật, tiếng đàm như rít, lưỡi dày dính, đại tiện bí hoặc đại tiện thông nhưng không tiêu chảy, đều có thể dùng Thoạt đàm định kinh tán: Toàn tê chế 30 con, Ba đậu thoa 0,45g, Ngưu hoàng 0,6g, Bàng thạch 1,5g, Hùng hoàng 2g, Đơn tinh 6g, Xuyên bối, Thiên trúc hoàng mỗi thứ 3g, Tế hương 0,3g (sau hạ). Tất cả nghiền thành bột mịn, đựng trong lọ kín để sẵn. Sau khi dùng thuốc thường một lần tiêu chảy là giải, đàm tiêu thần tỉnh, nhiệt cũng hạ xuống.2. Thương hàn chính và phụThương hàn chính và phụ thuộc vào phạm vi nhiệt ẩm. Do Ngô Cự Thông có câu nói “nhiệt ẩm… hạ thì sẽ tiêu chảy”, hậu thế có người cho rằng dùng thuốc thông lợi có nguy cơ gây xuất huyết ruột, vì vậy việc dùng liệu pháp thông lợi lâu nay tranh cãi gay gắt. Qua nghiên cứu tài liệu và thực tiễn lâm sàng, tôi hoàn toàn đồng ý quan điểm “thương hàn chính và phụ không chỉ có thể hạ, mà còn phải lấy hạ làm chủ”. Thương hàn chính và phụ chủ yếu do cảm thụ tà nhiệt mà khởi phát, thường kèm theo tích trệ, ẩm, do đó cần kịp thời thông thông tích trệ, thanh tả giải độc, khiến tà nhiệt không nội truyền dương minh, ứ đọng hóa hỏa, hạ ép vào mạch ruột, ngăn ngừa hoặc giảm thiểu xuất huyết ruột, rút ngắn thời gian điều trị. Vì vậy, liệu pháp thông lợi là phương pháp tích cực, trực tiếp tiến vào ổ tà nhiệt, đuổi tà nhiệt ra ngoài, và cần “tầm hạ cấp tốc”, không nên chờ lưỡi chuyển vàng mới dám dùng hạ. Dĩ nhiên, thương hàn chính và phụ cần “pháp nhẹ, hạ thường xuyên”, không nên quá mạnh, thuốc sắc dùng đại hoàng thường từ 6–15g, mạn tiêu từ 6–12g, dùng lương cách tán từ 30–45g. Thông thường dùng liên tục 3 ngày, sau đó tùy theo thể chất cường yếu, mức độ tà nhiệt, dùng hàng ngày hoặc cách ngày. Tôi dùng phương “Biểu lý hòa giải đan” và “Cát khổ tam hoàng đan” do Nghiệp thị dựa trên “Thăng giáng tán” (đại hoàng sống, sương côn, thiên diệp, cam hoàng) trong sách “Hàn ôn điều biện” của Dương Lệ Sơn để điều trị thương hàn chính, phụ và cúm, v.v., hiệu quả tốt, thời gian điều trị thường từ 3–10 ngày, liều nhỏ, dễ dùng, không có tác dụng phụ nào.Biểu lý hòa giải đan: Phù hợp với thương hàn chính, phụ và cúm, v.v., khi khởi phát có biểu lý chứng, hoặc bệnh khởi phát 3–5 ngày, vẫn còn biểu chứng. Có thể sơ tán biểu, tả nhiệt, thanh tràng giải độc, giải biểu lý song giải, rút ngắn thời gian điều trị. Sau khi dùng thuốc thường một lần tiêu chảy là mạch tĩnh thân mát, hoặc thấy rõ giảm đột ngột, dùng thêm 2–4 lần có thể khỏi. Ngoài trừ người khí hư, tỳ hư tiêu chảy, hoặc sốt nhẹ, sợ lạnh rõ rệt, người lớn và trẻ em đều có thể dùng. Thành phần thuốc: Đại hoàng sống 135g, Sương côn chế 45g, Thiên diệp, Cam thảo mỗi thứ 30g, Tảo giác, Quảng cam hoàng, Ô mai than mỗi thứ 15g, Bạc thạch 180g. Tất cả nghiền thành bột mịn, dùng nước ép lá hoắc hương tươi, nước ép lá bạc hà tươi mỗi thứ 30g, nước ép củ cải tươi 240g, làm viên bằng hạt đậu. Người lớn mỗi lần uống 4–6g, phụ nữ hoặc thể yếu giảm liều; trẻ em khoảng 10 tuổi uống 2,0–2,3g, trẻ 6–8 tuổi uống 1,2–1,5g, trẻ 2–5 tuổi uống 0,5–0,75g. Mỗi ngày 1 lần, nếu đại tiện chưa tiêu, có thể uống thêm 1 lần, dùng liên tục 1–3 ngày, sốt lui thì ngừng.Cát khổ tam hoàng đan: Đối với bệnh nhiệt ẩm, v.v., sau dùng phương trên 3 ngày mà nhiệt chưa giảm, có thể tiếp tục dùng viên này, đây là phương thuốc kết hợp thông lợi tả tà, thanh nhiệt giải độc, kiện ẩm hóa thấp. Thường dùng liên tục 5–10 ngày là hiệu quả. Thành phần thuốc: Bạc thạch phi 600g, Đại hoàng sống 90g, Thiên diệp 15g, nghiền thành bột mịn; thêm khổ sâm 150g, Cát căn, Hoàng cầm mỗi thứ 90g, Thiên hoa phấn, Nhân trần, Thanh hao mỗi thứ 60g, Hoàng liên, Cam thảo, Bạch khấu nhân mỗi thứ 30g, Thiên diệp, Cam hoàng, Xuyên úc kim, Tương thuật mỗi thứ 15g, sắc lấy thuốc nước đặc; rồi dùng nước ép lá sen tươi, nước ép hoắc hương tươi mỗi thứ 150g, nước ép lá tô tươi 180g, nước ép rễ cỏ mực tươi 240g, hạt củ cải tươi 60g, nghiền kỹ, dùng thuốc nước trên để vắt 2 lần, thêm củ cải tươi 90g, chế thành thuốc nước. Trộn thuốc nước này với 3 loại bột trên làm viên, mỗi viên nặng 6g (khi không có thuốc tươi thì dùng nửa lượng thuốc khô, nghiền mịn, dùng thuốc nước đã nguội ngâm qua, vắt xong phải thêm nước lọc để vắt lần nữa, tránh mất thuốc nước). Mỗi lần uống 2 viên, mỗi ngày 1 lần, thể yếu hoặc trẻ em giảm liều, dù có tiêu chảy vẫn có thể dùng. Sau khi dùng thường mỗi ngày tiêu chảy nhẹ 1–2 lần, nhiệt dần giảm và khỏi.3. Viêm phổiỨng dụng phương pháp hạ trong viêm phổi chủ yếu là thêm đại hoàng vào phương thuốc điều trị theo chứng, xưa có câu “bệnh ở tạng, trị ở phủ”, khi phủ đại tràng thông suốt, tà nhiệt, đàm thấp ứ đọng ở thượng tiêu tự có đường thoát. Đại hoàng có công năng thanh nhiệt hóa ẩm, tả nhiệt huyết thực, nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh đại hoàng có tác dụng nhuận tràng chậm, kiện tỳ, lợi mật, còn có khả năng kháng khuẩn mạnh, thậm chí ức chế virus cúm, do đó việc dùng đại hoàng điều trị viêm phổi do sởi đáng được chú ý và nghiên cứu, đối với viêm phổi do virus cũng có hiệu quả nhất định, điều này chứng minh rõ ràng hiệu năng vượt trội của liệu pháp thông lợi. Qua thực tiễn, cá nhân cũng có trải nghiệm tương tự: tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, giải độc kháng khuẩn của đại hoàng rất rõ rệt, chỉ cần dùng đúng cách, hoàn toàn không có tác dụng phụ.4. Tiêu chảy do trực khuẩnỞ giai đoạn đầu tiêu chảy, do tích trệ cũ, nhiệt ở trong, tiền nhân đã sớm nói “tiêu chảy không có phương pháp dừng”, “tiêu chảy phải hạ đầu tiên”, liệu pháp thông lợi rất phù hợp với giai đoạn đầu. Cá nhân thường dùng phương “Tiêu tả tán” chủ yếu dùng đại hoàng sống và đại hoàng chín để điều trị tiêu chảy và tiêu chảy, tiện lợi, giá rẻ, hiệu quả rõ rệt, có thể phổ biến rộng rãi.Tiêu tả tán: Đại hoàng sống, đại hoàng chín (sắc) mỗi thứ 30g, Tương thuật (ngâm nước gạo) 90g, hạnh nhân (loại vỏ, hạt dầu) và khương hoạt (sắc) mỗi thứ 60g, xuyên ô (loại vỏ, hấp qua bánh mì) và cam thảo (sắc) mỗi thứ 45g. Tất cả nghiền thành bột mịn, đựng trong lọ để dùng. Tiêu chảy đỏ trắng mỗi lần uống 3–4g, tiêu chảy đỏ dùng nước sắc dây đèn 1 thước pha thuốc, tiêu chảy trắng dùng 3 lát gừng sắc nước pha thuốc, tiêu chảy đỏ trắng lẫn nhau dùng nước sắc dây đèn và gừng pha thuốc. Tiêu chảy mỗi lần uống 2g, dùng nước cơm pha thuốc. Trẻ em giảm một nửa liều, trẻ dưới 4 tuổi dùng 1/4 liều, trẻ nhỏ giảm thêm, mỗi ngày 2 lần. Phương này có công năng tả nhiệt thông trệ, kiện tỳ kiện ẩm, ôn lý tán hàn,止 đau an trung, đối với tiêu chảy do trực khuẩn và tiêu chảy cấp, mạn tính đều hiệu quả rõ rệt, chủ yếu dùng cho tiêu chảy do thực nhiệt, nhưng người thể hư hàn, tuy không quá yếu cũng có thể dùng. Riêng tiêu chảy dịch độc phải phối hợp thuốc thanh tràng giải độc, hoặc kết hợp Đông-Tây y mới an toàn, tiêu chảy kéo dài ra nước máu loãng thì kiêng dùng.Trên đây chỉ nêu sơ lược bốn loại bệnh nhiệt nhiệt dùng liệu pháp thông lợi, minh chứng vai trò quan trọng của liệu pháp thông lợi trong điều trị bệnh nhiệt nhiệt. Dĩ nhiên, liệu pháp thông lợi cũng không phải là phép màu, chúng ta vẫn phải nắm vững nguyên tắc điều trị theo chứng, dùng đúng thời điểm, đúng cách.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]