Khiếu, nghĩa là lỗ, hốc. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, khiếu là các cửa ngõ nối giữa bên trong cơ thể với môi trường bên ngoài. Các tà khí xâm nhập vào người thường xâm nhập qua các khiếu này. Trong "Linh Shu – Khẩu Vấn" đã sớm đề cập đến việc tà khí đi vào các khe hở. Ví dụ như tà phong hàn thường xâm nhập qua lỗ lông, tà nhiệt, virus thường xâm nhập qua miệng và mũi, tà ăn uống ô uế nhất định phải xâm nhập qua miệng, tà độc của bệnh tình dục thường xâm nhập qua âm đạo. Tà khí xâm nhập qua khiếu cũng có thể bài tiết ra ngoài qua khiếu, Trung Cảnh thường lợi dụng các khiếu này để làm đường ra cho tà khí, gọi là phương pháp thông khiếu khu tà. Trong "Ôn Dịch Luận – Bia Bản" viết: "Các khiếu là nơi giao tiếp giữa con người và thế giới, tà khí xâm nhập qua khiếu, chưa có cách nào không thể bài tiết ra qua khiếu". Thực tiễn lâm sàng chứng minh rằng, bất kể tà khí xâm nhập qua khiếu hay sinh ra từ bên trong, đều có thể tùy tình hình thông khiếu để bài trừ, ví dụ như thủy ẩm, đàm trọc, ứ huyết đều có thể bài trừ ra khỏi cơ thể bằng phương pháp thông khiếu. Như vậy, phương pháp thông khiếu khu tà có vị trí quan trọng trong điều trị học. 1. Mở khiếu giải tà – một tuyệt kỹ chữa bệnh Trong điều kiện sinh lý bình thường, các khiếu như họng, lỗ mồ hôi, hậu môn và âm đạo là những con đường quan trọng để bài tiết sản phẩm trao đổi chất của cơ thể. Trong quá trình bệnh lý, do tà khí chặn tắc hoặc rối loạn chức năng tạng phủ, thường dẫn đến các đường bài trừ chất thải bị tắc nghẽn hoặc thông không畅. Khi tắc thì tà tụ thành bệnh, khi thông thì tà có đường ra. Lúc này, nếu không mở đường cho tà ra thì tà không thể bài tiết ra ngoài. Ví dụ như phong hàn xâm nhập, do tính chất lạnh thu liễm, khiến lỗ mồ hôi bị đóng kín, dương khí bị ức chế không ra được mồ hôi. Khi lỗ mồ hôi không thông, tà hàn xâm nhập không thể bài tiết ra ngoài, vì vậy phải dùng các dược liệu như Ma Hoàng, Quế Chi... để mở lỗ mồ hôi, đưa tà ra ngoài; khi tích trệ trong ruột gây bí đại tiện, dùng Đại Hoàng – loại dược liệu chạy mạnh, không lưu lại – để mở hậu môn, đẩy tà ra ngoài; khi ứ huyết kết tụ gây tắc kinh mạch dẫn đến kinh nguyệt không ra, dùng Đương Cổ Thang để mở đường cho tà ra, huyết ứ tự nhiên tan đi; khi thủy thấp tích tụ, thường gây tiểu ít, đời sau có câu “trị thấp mà không lợi tiểu, không phải là trị đúng”, các phương thuốc lợi thủy đều có tác dụng thông tiểu. Trong "Linh Shu – Tự Tiết Chân Tỵ" viết: "Mở rộng, phá vỡ cửa ngõ, để tà ra ngoài, bệnh mới khỏi". Mở cửa ngõ chính là tạo đường cho tà ra, áp dụng các phương pháp như phát hãn, trợ nôn, hạ, lợi, khiến chỗ tắc trở nên thông suốt, chỗ thông nhưng không thuận lợi thì giúp thông suốt, nhằm hỗ trợ tà ra ngoài. Một trong bốn đại gia của thời Kim Nguyên, Trương Tử Hòa, cho rằng: "Bệnh là thứ không có sẵn trong cơ thể, hoặc do bên ngoài xâm nhập, hoặc do bên trong sinh ra, đều là tà khí, khi tà khí xâm nhập vào thân thể, nên tấn công nhanh chóng, nên bài trừ nhiều lần". Muốn tà ra nhanh, phương pháp thông khiếu là tốt nhất. Vì vậy, Trương Tử Hòa đặc biệt giỏi dùng ba phương pháp phát hãn, trợ nôn, hạ, khiến tà ra qua khiếu, bệnh tự khỏi. 2. Thông khiếu gần nhất – một yếu tố then chốt Tà khí xâm nhập vào người có thể lưu lại ở các vị trí khác nhau, hoặc ở bề mặt, hoặc ở bên trong, hoặc ở kinh lạc, hoặc ở tạng phủ. Khi điều trị, cần xác định vị trí bệnh để chọn đường ra gần nhất cho tà ra ngoài. Trong "Tố Vấn – Dương Âm Ứng Tượng Đại Luận" viết: "Nếu cao thì nên thúc đẩy ra ngoài; nếu thấp thì kéo xuống; nếu đầy ở giữa thì nên hạ xuống bên trong", đồng thời có lời nói: "Nếu ở da thì nên phát hãn", đó chính là nói rằng điều trị bệnh cần căn cứ vào vị trí bệnh, tận dụng đường gần nhất để bài trừ tà. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, phương pháp thông khiếu gần nhất để khu tà rất phong phú. Ví dụ như tà phong hàn, tà phong thấp, thủy ẩm... nếu ở bề mặt, đều mở lỗ mồ hôi, khiến tà ra ngoài qua mồ hôi; nếu tà nhiệt thực, tà hàn thực, táo thố, ứ huyết... ở ruột, đều tấn công hạ, khiến tà ra ngoài qua phân; nếu tà thực tích tụ ở ngực, họng, dạ dày, thì dùng phương pháp trợ nôn để bài trừ tà qua miệng; nếu thấp nhiệt ở hạ tiêu thì thông tiểu tiện để bài trừ tà. Đôi khi biểu hiện bệnh ở đây nhưng vị trí bệnh ở đó, cần phân biệt rõ ràng. Ví dụ như chứng "nghẹt khí, bụng đầy" trong "Kim Quí Yếu Lược", dù biểu hiện ở trên nhưng thực chất là do "bệnh ở dưới, khí trào lên trên", tà khí ở dưới, hai khiếu hậu môn và âm đạo chắc chắn sẽ có dấu hiệu bất lợi, vì vậy Trung Cảnh nói: "Nhìn vào trước sau, biết bộ phận nào bất lợi, lợi nó thì bệnh sẽ khỏi", khi hai khiếu thông, khí độc xuống dưới, bụng đầy sẽ tiêu, nghẹt khí sẽ ngừng. Đây chính là ví dụ điển hình của phương pháp thông khiếu gần nhất. Gần thì thuốc dễ đạt tới vị trí bệnh, tà dễ bị bài trừ, coi như đi đường tắt, không vòng vo. Vì vậy, Ngô Cửu Đồng trong "Ôn Bệnh Điều Biện" nói: "Khi bài trừ tà, hãy theo vị trí bệnh, gần nhất thì bài trừ". Nếu bỏ qua yếu tố này, thường có thể dẫn tà sâu hơn, hoặc khiến tà lan rộng, hoặc tổn thương chính khí, nhiều hệ lụy không thể không xem xét. 3. Mở nhiều khiếu, phân đường bài trừ tà Khi tà khí xâm nhập gây bệnh, có thể là một loại tà độc đơn độc, hoặc nhiều loại tà độc giao thoa. Y học cổ truyền thường dùng phương pháp thông lợi nhiều khiếu, phân đường bài trừ tà. Phương pháp này có thể tách rời, phá vỡ tà độc, giúp tà ra ngoài qua nhiều đường hoặc đường quen thuộc. Ví dụ như thủy ẩm tích tụ gây phù toàn thân, mặt, mắt, đều phù, tà thủy này không thể bài tiết qua mồ hôi, cũng không thể xuống tiểu tiện, dùng phương thuốc Việt Bì Gia Thuật Thang. Dùng Việt Bì Thang phát hãn hành thủy, khiến thủy ẩm ở bề mặt ra ngoài qua lỗ mồ hôi, thêm Bạch Truật khiến thủy ẩm ở bên trong, phía dưới chảy xuống qua niệu đạo. Đây là phương pháp phân một tà ra hai đường trên dưới. Nếu nhiều tà độc giao thoa gây bệnh, càng nên phân tán, phá vỡ, khiến chúng ra đường riêng. Ví dụ như thủy ẩm và chất thô kết tụ trong ruột, gây ra các triệu chứng như "bụng đầy, miệng khô lưỡi khô", dùng Phương Dã Giai Lợi Hoàn. Trong phương này, Phòng Kỷ, Gia Mộc vị cay, thơm, đắng, thanh, dẫn thủy ra qua âm đạo, Đình Lợi, Đại Hoàng kiên quyết phá vỡ, đẩy thủy ẩm, chất thô ra qua hậu môn; nếu nhiệt kết nặng và "khát", thì thêm Mạn Tiêu để tăng cường lực đẩy hậu môn, khiến thủy tà, táo kết phân tán ra hai đường trước sau. Các phương khác như Đại Hoàng Cam Tùy Thang dùng Đại Hoàng tấn công ứ huyết ở hậu môn, Cam Tùy đuổi ứ huyết ở tiền khiếu, khiến tà khí nước, huyết kết tụ trong tử cung sản phụ phân tán ra ngoài; Đại Hạ Tỳ Thang, Đại Hạ Tỳ Hoàn dùng Diêm Hoàng phối hợp Cam Tùy, Đình Lợi, khiến tà khí do thủy nhiệt kết tụ gây chứng kết hạch ra ngoài qua hai khiếu trước sau; Mộc Phòng Dĩ Khử Thạch Ca Gia Phục Linh Mạn Tiêu Thang điều trị chứng trọng chứng phong ẩm hư thực hỗn tạp, dùng Phòng Kỷ, Quế Chi hành thủy, tán kết khí đi qua da lông, Phục Linh, Mạn Tiêu hóa cứng, thông lợi hai khiếu trước sau, khiến thủy tà, kết thực không thể không tan. Lại như thấp nhiệt giao thoa, tổn thương huyết phần, lan tỏa khắp da thịt gây vàng da, Trung Cảnh dùng Phương Thất Trần Hao Thang, Chi Tử Đại Hoàng Thang hoặc Đại Hoàng Tiêu Thạch Thang, lần lượt phối hợp Thất Trần, Chi Tử với Đại Hoàng, Chi Tử, Đậu Xưng với Đại Hoàng, Chi Tử, Hoàng Bách với Tiêu Hoàng, mặc dù công dụng có khác nhau, nhưng mục đích bài trừ thấp nhiệt ra hai đường đại tiểu tiện là nhất quán. Phương pháp phân dòng bài trừ tà giống như việc Vũ Dục trị thủy, ngăn sông đào kênh, phân lưu, giải tỏa tắc nghẽn, giúp tà bệnh ra ngoài qua nhiều đường. 4. Mở khiếu theo xu hướng, thúc đẩy tà ra ngoài Trong quá trình phát triển bệnh, đôi khi cơ thể có xu hướng tự kháng tà ra ngoài, y học cổ truyền Trung Hoa thường tận dụng phản ứng sinh lý hoặc bệnh lý có lợi cho việc bài trừ tà, giúp cơ thể một tay, thuận theo xu hướng để mở khiếu, dẫn tà ra ngoài. Nếu muốn nôn thì mở khiếu trên để thúc nôn. Chứng nôn, theo quy luật thông thường, nên điều trị bằng cách hạ nghịch,止 nôn. Nhưng nếu bệnh nhân không chỉ "ăn vào là nôn" mà còn "cảm giác nóng trong lòng, muốn nôn" (điều 324 trong "Sơ Hàn Luận"), khi muốn nôn là do tà khí ở trên, chính khí có xu hướng bài trừ tà ra ngoài, Trung Cảnh chủ trương thuận theo xu hướng bệnh, mở khiếu trên để thúc nôn, khiến tà thực trong ngực ra ngoài qua nôn. Lại như khi có mủ gây nôn, là phản ứng sinh lý bài trừ tà của cơ thể, vì vậy dù là người hay nôn, vẫn nên nôn ra, không nên thấy nôn mà ngăn nôn, khiến mủ ra ngoài, nôn hết thì mủ hết, mủ hết thì nôn ngừng. Những trường hợp khác như sốt rét tiến ra bề mặt, hoặc thực tích ở trên, hoặc rượu thấp nóng trong tim, buồn nôn muốn nôn, cũng là dấu hiệu chính khí đang bài trừ tà ra ngoài, nên tận dụng xu hướng kháng bệnh của cơ thể, thúc nôn để tà ra ngoài. Nếu muốn đi ngoài thì mở khiếu dưới để bài trừ tà. Ví dụ như chứng lưu ẩm thấy "muốn đi ngoài, đi ra lại thoải mái, dù đi ra nhưng vẫn cảm giác đầy bụng", xét cơ chế bệnh lý, "đây là do lưu ẩm muốn ra ngoài", tuy nhiên dù đã ra, nhưng cái mới lại tiếp tục tích tụ, vì vậy dù đi ra mà bụng vẫn đầy cứng như cũ, Trung Cảnh dựa vào xu hướng muốn ra, dùng phương thuốc Cam Tùy Bán Hạ Thang thông suốt đường nước, nhân cơ hội đó dẫn tà ra ngoài. Ngoài ra, khi đại tiện ra máu do ứ huyết (điều 239 trong "Sơ Hàn Luận"), Trung Cảnh dựa vào xu hướng ứ huyết đi xuống, không dùng phương pháp cầm máu, ngược lại dùng Đương Cổ Thang hoạt huyết, hạ huyết để điều trị; phụ nữ vừa sinh, dịch ứ trong bụng gây đau, ra máu, dùng Trúc Thực Thiếu Dược Tán không khỏi, dùng Hạ Ứ Huyết Thang, khiến "dịch ứ mới ra như gan heo", các chứng như kinh nguyệt không thông cũng có thể dùng phương pháp này để điều trị, chính là phương pháp "thông âm khai tích" theo chứng bệnh. Thực tích, táo thố tích tụ ở hạ tiêu, có xu hướng đi ngoài, phương pháp điều trị cũng hỗ trợ bài trừ qua khiếu dưới. Ví dụ như khi đi ngoài thấy mạch hoặc "ba bộ đều bình", hoặc "chậm mà trơn", hoặc trơn, biểu hiện hoặc bụng ngực cứng đầy, hoặc nói mê, xét cơ chế bệnh lý, đi ngoài là triệu chứng bề ngoài, thực chất là thực tà, thực nhiệt, thực tích, thấp nhiệt là gốc, thực tà tích tụ có xu hướng đi xuống, Trung Cảnh dùng phương pháp "thông nhân dụng thông" để điều trị, chính là phương pháp mở khiếu theo xu hướng bệnh. 5. Dùng khiếu lập pháp, mượn đường bài trừ tà Mượn đường bài trừ tà là một biến thể của phương pháp thông khiếu khu tà. Nghĩa là bệnh tà ở đây, nhưng lại mượn khiếu ở nơi khác để bài trừ tà ra ngoài. Thường có các trường hợp sau: - Mượn khiếu gần: Theo vị trí bệnh tà, khi không có đường khác hoặc đường khác không tiện để bài trừ tà, có thể mượn đường gần để dẫn tà ra. Ví dụ như dùng Phương Uất Kim Thang hoặc Uất Kim Bạch Tán điều trị phổi ung, uống xong đều "nôn ra mủ máu", là phương pháp bài trừ độc tố, mủ máu trong phổi qua khiếu giả. Vì đường tiêu hóa hoặc đường hô hấp đều đi qua hầu họng, dùng các dược liệu như Uất Kim, Ba Đậu... để tuyên phế, bài trừ tà, khiến độc tố phổi lên, khi đi qua khí quản và kích thích họng, sẽ gây nôn, từ đó đạt được mục đích bài trừ tà bệnh trong phổi qua khiếu giả. Nếu để mủ máu ra qua mũi, không chỉ làm tăng đau khổ cho bệnh nhân mà còn dễ gây tâm lý sợ hãi. Vì vậy, trong "Thiên Kim" dùng Phương Ngưu Kính Thang điều trị phổi ung khi mủ đã thành, toàn phương dùng hoạt huyết, bài mủ, trong đó không có vị nào kích thích nôn, nhưng Trung Cảnh có ý thức tăng liều lượng (uống thêm lần nữa) để gây nôn, khiến độc tố phổi bài trừ qua khiếu giả. - Trường hợp phổ biến nhất là hai khiếu trước sau mượn lẫn nhau. Ví dụ như thấp trệ khí trệ, ứ đọng trong ruột gây tiêu chảy, Trung Cảnh chủ trương "phải lợi tiểu tiện". Lợi tiểu có thể tách rời thấp trong ruột, thấp đi, khí thông, tiêu chảy sẽ ngừng, đây chính là cách "mở sông cấp tốc" của Dư Gia Nghiêm. Sau này, khi nước đi vào ruột gây tiêu chảy không ngừng, thường dùng phương pháp lợi tiểu để phân tiêu, thực chất bắt nguồn từ đây. Như trong "Ôn Bệnh Điều Biện" nói: "Thông tiểu tiện để bảo vệ hậu môn. Nếu thái dương không mở thì dương minh không hợp, mở thái dương chính là để bảo vệ dương minh". Đối với các bệnh lý hậu môn trực tràng gây tiểu tiện tắc nghẽn, thông đại tiện có thể làm dịu chứng tắc; khi tiểu tiện không thông, độc tố tiểu tích tụ, thường dùng thuốc qua đường ruột để thực hiện "thận lọc", tất cả đều thuộc phương pháp mượn đường gần để bài trừ tà. - Mượn đường theo xu hướng: Dựa vào dấu hiệu phản ánh xu hướng kháng tà của cơ thể, mượn đường khiếu thích hợp để bài trừ tà ra ngoài. Ví dụ như nhiễm độc dịch gây bệnh âm dương độc, một loại bệnh truyền nhiễm cấp tính có ban, Trung Cảnh dùng phương thuốc Thanh Nhiệt Tán Ước như Thang Thang, nhưng lo ngại tà không có đường ra, nên dựa vào vị trí tà độc ở da thịt, và sự xuất hiện ban chính là dấu hiệu bài độc, thuận theo xu hướng để bài trừ tà, dùng phương pháp "uống thêm, lấy ra mồ hôi", khiến tà độc ra ngoài qua khiếu mồ hôi. Cũng có thể mượn đường ngược lại, ví dụ như chứng "ăn xong liền nôn", là lý do "các nghịch động lên trên đều thuộc về lửa". Nhiệt ở dạ dày lên trên, xu hướng bệnh lên trên, tưởng chừng phải dùng nôn để điều trị, nhưng "nếu nôn không ngừng, có lên mà không xuống, thì phải ngược lại, dẫn xuống dưới" (theo Vương Khảm Đường). Trung Cảnh dùng Đại Hoàng Cam Thảo Thang, ý định mượn đường hậu môn để dẫn nhiệt dạ dày ra ngoài. Khi hậu môn thông, nhiệt thế bị đè xuống, nôn tự ngừng. Đây chính là ý nghĩa "muốn dẫn gió nam, trước tiên phải mở cửa Bắc". Lý Đông Nguyên học được điều này rồi sáng tạo ra Thang Thông Uy, chính là ví dụ điển hình của việc mượn đường ngược lại để bài trừ tà. - Mượn đường giữa nội tạng và ngoại tạng: Dựa vào mối quan hệ biểu lý giữa tạng phủ, đưa tà trong tạng ra ngoài qua tạng phủ tương hợp, cũng là phương pháp thường dùng. Ví dụ như thủy trấp ở phổi gây chứng "khách ho" hoặc "chi dẫn khách", vì phổi hợp với đại tràng, tà trong phổi thường có thể điều trị bằng cách thông lợi đại tràng, vì vậy dùng Thập Táo Thang tấn công hạ, bài trừ thủy, uống vào buổi sáng sớm, phải "được hạ nhanh" mới bài trừ được tà, đây là phương pháp "trị bệnh trên, lấy bệnh dưới", mượn đường bài trừ tà. Như Vương Mạnh Anh trong "Ôn Nhiệt Kinh Vĩ" nói: "Chuyển tà ra ngoài qua tạng phủ, chính là con đường bệnh đi". Đường Dung Xuyên trong "Kim Quí Yếu Lược Sơ Trữ Bổ Chính" cũng nói: "Theo 'Nội Kinh', ngũ tạng đều có tương hợp — bệnh ở tạng, nên theo tạng phủ tương hợp để điều trị". Tim hợp với tiểu tràng, khi hỏa ở tim mạnh, thường dùng phương pháp thông lợi tiểu tiện để khiến hỏa theo tiểu tiện ra ngoài; thận hợp với bàng quang, khi thấp nhiệt ở hạ tiêu, dùng thuốc thông lợi bàng quang thì thấp nhiệt có thể trừ đi. Tóm lại, phương pháp thông khiếu khu tà là sử dụng các phương pháp như thuốc để mở các đường nối giữa cơ thể và môi trường bên ngoài, nhằm bài trừ tà ra ngoài qua các khiếu. Phương pháp này phù hợp với sinh lý, thuận theo xu hướng bệnh, dễ tiếp cận vị trí bệnh, bài trừ tà có đường, là phương pháp thường dùng, thiết thực trong lâm sàng. Việc nghiên cứu sâu hơn phương pháp này sẽ có lợi lớn trong việc vận dụng học thuyết Trung Cảnh để hướng dẫn lâm sàng, nâng cao hiệu quả điều trị.
|