Chứng sốt cao là một trong những biến chứng phổ biến sau chấn thương sọ não. Khi phân biệt chứng và điều trị, tôi nhận thấy rằng chấn thương sọ não mức độ nặng và trung bình thường gặp ở người trẻ tuổi, sốt cao là biểu hiện của sự đấu tranh giữa chính khí và tà khí; nếu có thể khống chế tà khí hiệu quả, thường đạt được kết quả tốt. Dưới đây là một số ví dụ minh họa. Trường hợp 1: Ông尹, nữ, 40 tuổi. Do tai nạn giao thông gây tổn thương sọ não cấp tính kín (mức độ nặng), nhập viện ngày 20 tháng 5 năm 1998. Chẩn đoán ban đầu: tổn thương thân não nguyên phát, xuất huyết khe vòng phải, rách da đầu, gãy xương cánh tay trái. Lúc nhập viện đã hôn mê sâu, khó thở, huyết áp 24/14 kPa. Ngay lập tức tiến hành điều trị hạ nhiệt dưới mức, thở máy nhân tạo, kháng viêm, giảm áp lực nội sọ... Sau 48 giờ ngưng điều trị hạ nhiệt dưới mức, thân nhiệt dần tăng lên, đạt trên 39℃, dùng các biện pháp hạ sốt vật lý như thảm lạnh. Khám máu: WBC 10,7×10⁹/L, N: 91%, L: 9%. Chẩn đoán Tây y: sốt trung tâm sau tổn thương thân não nguyên phát kèm nhiễm trùng phổi. Đã dùng nhiều thuốc như环丙沙星,希普欣,稳可信,泰能 nhưng không hiệu quả. Ngày 27 tháng 5 mời hội chẩn chuyên khoa Đông y. Khám thấy: sốt cao, hôn mê, T 39℃, da nóng bỏng, không ra mồ hôi, toàn thân có vết xước tím đỏ rải rác. Đã đặt nội khí quản, tiếng đờm vang trong họng, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng thô ráp, mạch căng hoạt sốt mạnh. Chứng thuộc loại đàm nhiệt che phủ, ứ trệ kinh lạc não. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt hóa đàm, khu ứ thông lạc mở khiếu. Bài thuốc: Qua lâu 18g, bán hạ, thiên trúc hoàng mỗi thứ 12g, hoàng cầm, thất sài hồ, uất kim mỗi thứ 9g, xuyên芎 3g, ngư tinh thảo 15g, bạch chỉ, chích viễn chí, xạ can mỗi thứ 6g, linh dương bột (pha uống) 0,6g. 4 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc nước, chia làm 2 lần cho qua dạ dày. Ngày 1 tháng 6 tái khám: vẫn sốt cao, thần trí hôn mê, T 40,5℃, đại tiện đã 1 tuần không đi, lưỡi mạch giống trước. Điều trị theo phương pháp "phá đáy nồi", giải độc tả nhiệt. Đề nghị dùng Đại Thừa Khí Thang gia vị: đại hoàng (sắc sau), hậu bộc, mang tiêu (pha) mỗi thứ 5g, nhân công ngưu hoàng (pha) 0,3g, thiên trúc hoàng, tiêu chi tử mỗi thứ 12g, đạm đậu xì 6g, linh dương bột (pha) 12g, qua lâu 18g, sao tri thực, thất sài hồ, uất kim mỗi thứ 9g. 4 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc nước, chia làm 2 lần uống. Sau 2 thang, đại tiện ra lượng lớn phân hôi thối, thân nhiệt giảm xuống 38℃, sau 4 thang thân nhiệt 36,8℃, tiếp tục uống thêm 3 thang để củng cố hiệu quả. Thần trí còn hôn mê nông, hô hấp ổn định, đờm ít, thân nhiệt không tăng trở lại. Trường hợp 2: ÔngChâu, nam, 42 tuổi. Chấn thương sọ não 2 ngày, phẫu thuật huyết khối não bên phải 1 ngày, nhập viện ngày 22 tháng 6 năm 1998 do huyết khối não bên phải sau phẫu thuật dẫn đến tổn thương thân não. Khi nhập viện, ý thức hôn mê, được điều trị đối chứng bằng hạ nhiệt dưới mức, thở máy nhân tạo, kháng viêm, giảm áp lực nội sọ, chọc dò dịch não tủy để hạ áp lực nội sọ... Sau đó ý thức chuyển sang tỉnh, nhưng vết thương vùng thái dương phải bị vỡ, chảy dịch mủ và dịch não tủy, sau đó xuất hiện sốt cao, ý thức mơ hồ. Khám máu: WBC 19,9×10⁹/l, N: 80%, L: 19%. Xét nghiệm dịch não tủy: ngoại quan vàng hơi đục, thử潘氏 (+), tổng số tế bào 16×10⁹/l, bạch cầu 11×10¹⁰/l, đơn nhân 42%, đa nhân 58%. Sinh hóa dịch não tủy: glu 19 mmol/l, cl 80 mmol/l, pro 193 mg/l. Nuôi cấy dịch não tủy: khuẩn citrat. Chẩn đoán Tây y: sốt do nhiễm trùng nội sọ. Đã dùng nhiều thuốc kháng sinh như凯复定, sulfamid,泰能,罗氏芬 và viên An Cung Niêu Hoàng Hoàn thanh nhiệt giải độc, hóa đàm mở khiếu, nhưng tình trạng không kiểm soát được. Ngày 16 tháng 7 mời hội chẩn chuyên khoa Đông y. Khám thấy: sốt cao, hôn mê, T 39,3℃, da nóng bỏng, vết thương đầu rỉ dịch não tủy, tiết dịch mủ, lành chậm, mất tiếng nói, tiểu nhiều, màu vàng, đại tiện nhão, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng dính, mạch sốt không đều. Chứng thuộc loại thấp nhiệt lan tỏa, độc lưu tại khí phần. Phương pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp giải độc, dùng bài thuốc Hoạt Phổ Hạ Linh Thang hợp Gạn Lộ Dục Độc Đơn gia giảm. Bài thuốc: hoạt hương, bán hạ, tiêu chi tử, xa tiền tử (bọc) mỗi thứ 12g, kim âm hoa, liên kiều mỗi thứ 15g, đạm đậu xì, xạ can mỗi thứ 6g, ích dĩ nhân 25g, uất kim, hoàng cầm, tần thảo mỗi thứ 9g, hậu bộc 5g, linh dương bột (pha uống) 0,6g. 4 thang, mỗi ngày 1 thang, sắc nước, chia làm 2 lần uống. Sau khi dùng thuốc, thân nhiệt dần hạ, dịch não tủy rỉ và dịch mủ giảm, vết thương bắt đầu lành lại. Ngày 24 tháng 7 tái khám: T 37,8℃, ý thức mơ hồ, đờm nhiều trong họng, đại tiện 2 ngày chưa đi, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng dính, mạch hoạt sốt. Điều trị theo phương pháp thanh nhiệt hóa đàm, bổ trợ thông đại tiện. Bài thuốc: qua lâu, phục linh mỗi thứ 18g, đan nam tinh, bán hạ, chi tử, xích thược mỗi thứ 12g, hoàng cầm 15g, sao tri thực, sài hồ mỗi thứ 9g, đại hoàng (sắc sau) 5g, linh dương bột (pha uống) 0,6g, nhân công ngưu hoàng (pha uống) 0,3g, 4 thang. Sau khi dùng hết thuốc, thân nhiệt trở lại bình thường, ý thức tỉnh, nói chuyện được, nhưng không muốn nói, vết thương lành tốt, tỉnh dậy ra nhiều mồ hôi, lớp lưỡi mỏng, mạch cự yếu, dùng bài thuốc kiện tỳ ích khí, tán thấp hóa đàm để hoàn thiện điều trị. Trường hợp 3: ÔngKhoa, nam, 13 tuổi. Bệnh nhân bị chấn thương sọ não do tai nạn xe hơi, nôn mửa 3 giờ, nhập viện ngày 15 tháng 5 năm 1998 với chấn thương sọ não cấp tính kín (trung bình). Khi nhập viện, tỉnh táo, nói chuyện được, tinh thần kém, da đầu không rách, tai mũi không chảy máu. CT: xuất huyết màng nhện do chấn thương, thủy tích não. Không lâu sau, đau đầu, nôn mửa, sốt, liệt nửa người bên phải, mất tiếng nói, thực hiện phẫu thuật dẫn lưu dịch não – phúc mạc và các biện pháp đối chứng khác, nhưng triệu chứng cải thiện không rõ rệt. Xét nghiệm dịch não tủy: ngoại quan vàng hơi đục, thử Pan氏 (-), tổng số tế bào 7,25×10⁹/l, bạch cầu 7,2×10⁹/l, đa nhân 65%, đơn nhân 35%. Sinh hóa dịch não tủy: glu 0,2 mmol/l, cl 119 mmol/l, pro 57 mg/l. Nuôi cấy dịch não tủy: tụ cầu da, trực khuẩn gây khí. Chẩn đoán: sốt do nhiễm trùng nội sọ. Đã dùng nhiều thuốc kháng sinh như penicillin,复达欣, 菌必治,消炎痛栓 và chế phẩm đông y từ củ sài hồ, nhưng không hiệu quả. Ngày 17 tháng 6 mời hội chẩn chuyên khoa Đông y. Khám thấy: sốt, T 39℃, da nóng bỏng không ra mồ hôi, mặt nhợt nhạt, cơ thể gầy, tỉnh táo, mất tiếng nói, liệt nửa người bên phải, đau đầu, bồn chồn, ăn kém, đại tiện nhiều ngày chưa đi, lưỡi đỏ, lớp lưỡi trắng dính, mạch细 sốt yếu. Dẫn lưu dịch não – phúc mạc thấy dịch não tủy có máu. Chứng thuộc loại tổn thương kinh lạc não do chấn thương, ứ trệ huyết ứ, thủy đình. Phương pháp điều trị: chủ yếu hóa ứ lợi thủy, dùng bài thuốc Đế Đương Thang gia vị. Bài thuốc: đại hoàng (sắc sau), mòng, thủy triết, tam thất mạt (pha) mỗi thứ 3g, đào nhân, hồng hoa, đình lịch tử mỗi thứ 9g, ích mẫu thảo 15g, xa tiền tử (bọc), hoạt hương mỗi thứ 12g, nhân sâm (pha riêng) 6g, phục linh 24g. 2 thang, sắc nước, chia làm 3 ngày uống hết. Ngày 21 khám: thân nhiệt trở lại bình thường, các triệu chứng còn lại cải thiện. Phân tích: Ba trường hợp trên về sốt cao sau chấn thương sọ não có phương pháp điều trị khác nhau. Trường hợp 1 chủ yếu do táo bón, kèm theo đàm nhiệt. Táo bón cùng đàm nhiệt xâm nhập lên tinh thần, gây ra sốt cao và hôn mê. Điều trị bằng Đại Thừa Khí Thang “phá đáy nồi”, cấp tốc hạ nhiệt, cứu âm, giúp đại tiện thông suốt, tà khí thoát ra qua đường ruột. Phổi và đại tràng tương ứng với nhau, bài tiết đại tiện và loại bỏ đàm nhiệt giúp tinh thần không bị ảnh hưởng, vì vậy khi đại tràng thông suốt, sốt hạ, thân thể mát, hôn mê giảm nhẹ, hô hấp ổn định, lượng đờm giảm. Trường hợp 2 chứng thuộc loại thấp nhiệt lan tỏa, độc lưu tại khí phần. Thấp nhiệt bốc lên, tinh thần bị che khuất nên sốt cao, ý thức không tỉnh. Điều trị cần dùng vị thuốc thơm nhẹ, tránh dùng liều lớn khổ hàn, các vị thuốc nhẹ thanh sẽ thanh nhiệt mà không tổn hại tỳ vị, như hoàng cầm, chi tử, xa tiền tử, kim âm hoa, liên kiều; vị thuốc thơm giúp kích thích tỳ vị, tỉnh táo khí cơ, hỗ trợ vận hóa thấp ẩm, như hoạt hương, hậu bộc, tần thảo, đạm đậu xì. Thấp nhiệt được phân tán, nhiệt thế dần hạ, tiếp tục dùng bài thuốc thanh nhiệt hóa đàm và kiện tỳ hóa đàm để điều chỉnh và ổn định. Trường hợp 3 chứng thuộc loại ứ trệ thủy đình. Ứ trệ kinh lạc não, huyết hành bất lợi, huyết bất lợi thì thủy tích. Huyết ứ nội trệ, huyết không theo đường thường, nên thấy dịch não tủy có máu. Ứ huyết hóa nhiệt, nhiệt thượng nhiễu thần minh, nên sốt, bồn chồn, đau đầu, mất tiếng nói. Mặt nhợt nhạt, cơ thể gầy, vận động chi thể khó khăn, là do huyết ứ không đi, huyết mới không sinh, cơ thể không được nuôi dưỡng. Dùng bài thuốc Đế Đương Thang phá huyết trừ ứ, tam thất hóa ứ chỉ huyết, ích mẫu thảo hóa ứ lợi thủy; phối hợp đình lịch tử, xa tiền tử lợi thủy hạ áp lực nội sọ, nhân sâm, phục linh, hoạt hương ích khí bổ chính, kiện tỳ hóa thấp. Tác giả giới thiệu Bàn Vĩnh Bình, nam, học trò của giáo sư Vương Miên Chi, năm 1996 nhận bằng tiến sĩ ngành phương thuốc học tại Học viện Y học cổ truyền Bắc Kinh. Hiện đang làm việc tại Khoa Đông y, Bệnh viện Thiên Đài, Trường Đại học Y học Cố đô Bắc Kinh, giữ chức bác sĩ trưởng, trưởng khoa Đông y, giảng viên hướng dẫn thạc sĩ chuyên ngành kết hợp Đông - Tây y tại Trường Đại học Y học Cố đô Bắc Kinh. Hiện là ủy viên Hội Trung y Trung Quốc, ủy viên Ủy ban Nội khoa Hội Trung y Trung Quốc, ủy viên thường vụ Hội nghiên cứu tiến sĩ Trung y Trung Quốc, ủy viên Ủy ban Nội khoa Hội Trung y Bắc Kinh, ủy viên thường vụ Ủy ban Dược lâm sàng lâm sàng Trung y Bắc Kinh, ủy viên Ủy ban Quản lý bệnh viện Trung y Bắc Kinh, ủy viên Ủy ban công tác thanh niên Hội Trung y kết hợp Bắc Kinh, chủ tịch Ủy ban công tác thanh niên Hội Trung y Bắc Kinh, thành viên cơ sở chuyên gia Bộ Quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc, chuyên gia danh mục thuốc thiết yếu bảo hiểm y tế quốc gia.
|