Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thực tế y học cổ truyền / Điều trị y học cổ truyền đối với sảy thai có dấu hiệu báo trướcBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Điều trị y học cổ truyền đối với sảy thai có dấu hiệu báo trước

Sảy thai là sự đình chỉ thai kỳ trước tuần thứ 28, thai nhi nặng dưới 1000g. Sảy thai xảy ra trước tuần thứ 12 gọi là sảy thai sớm, xảy ra sau tuần thứ 12 gọi là sảy thai muộn. Sảy thai liên quan đến các yếu tố như bất thường nhiễm sắc thể, tiếp xúc với chất độc hoặc thuốc, mẹ mắc bệnh toàn thân nghiêm trọng hoặc bệnh lý cơ quan sinh dục, yếu tố miễn dịch hoặc không tương hợp nhóm máu mẹ – thai. Theo quá trình phát triển và đặc điểm, sảy thai có thể chia thành sảy thai có dấu hiệu báo trước, sảy thai không thể tránh, sảy thai không hoàn toàn, sảy thai hoàn toàn, sảy thai quá hạn, sảy thai tái phát sáu loại.
Triệu chứng chính của sảy thai là đau bụng và chảy máu âm đạo. Sảy thai có dấu hiệu báo trước chảy máu ít, đau bụng nhẹ, không có vật thai ra, hoặc kèm theo đau lưng và cảm giác nặng bụng. Sảy thai không thể tránh thì chảy máu âm đạo nhiều hơn, vượt quá lượng kinh nguyệt, không có vật thai ra, đau bụng tăng, cảm giác nặng bụng, hoặc màng ối đã vỡ. Sảy thai không hoàn toàn biểu hiện là chảy máu âm đạo nhiều, không ngừng, đau bụng, có vật thai ra, thậm chí xuất hiện sốc mất máu. Sảy thai hoàn toàn biểu hiện là sau khi vật thai ra, chảy máu âm đạo giảm hoặc ngừng, đau bụng biến mất. Sảy thai quá hạn thường có tiền sử sảy thai có dấu hiệu báo trước, sau đó tử cung không tăng kích thước hoặc nhỏ lại, nếu đã đến giữa thai kỳ, bụng không tăng, không có cử động thai. Sảy thai tái phát là sảy thai tự nhiên liên tiếp ba lần hoặc ba lần trở lên, mỗi lần thường xảy ra vào cùng một tháng thai kỳ.
Sảy thai có dấu hiệu báo trước, y học cổ truyền gọi là "thai đau bụng", "thái lậu hạ huyết". Nếu không có chảy máu âm đạo mà chỉ có đau tức, căng tức bụng dưới thì gọi là "thái động bất an". Y học cổ truyền cho rằng nguyên nhân hình thành bệnh này chủ yếu do xung nhiệm bất cố, không thể giữ huyết dưỡng thai. Vì xung là hải huyết, nhiệm chủ thai bào, khí xung nhiệm vững chắc thì thai có chỗ dựa, huyết có chỗ nuôi dưỡng, thai nghén có thể phát triển bình thường; ngược lại thì xảy ra chứng thái lậu, thái động bất an.
Điều trị theo phân biện chứng y học cổ truyền, thường chia thành bốn loại: thận hư, khí huyết hư, huyết nhiệt, va chạm tổn thương thai. Hiện nay xin trình bày như sau:
1. Loại thận hư: triệu chứng chính là chảy máu âm đạo ít trong thai kỳ, màu nhạt, đau lưng, đau bụng dưới, hoặc kèm theo chóng mặt, ù tai, tiểu tiện nhiều, tiểu đêm nhiều, hoặc có tiền sử sảy thai tự nhiên, lưỡi nhạt, lớp trắng, mạch trầm trơn, hai mạch cước yếu. Điều trị nên bổ thận an thai. Phương dùng Thọ Thai Hoàn gia giảm: túc tư tử, câu kỷ tử, sơn dược, phủ bình tử, xuyên tục đoạn mỗi vị 15g, a giao 20g, nghị trí nhân 3g, đảng sâm, bạch truật mỗi vị 10g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống sáng, tối.
2. Loại khí huyết hư: triệu chứng chính là chảy máu âm đạo ít trong thai kỳ, màu hồng nhạt, chất loãng, hoặc đau tức, căng tức bụng dưới, kèm theo mệt mỏi, thở dốc, mặt nhợt nhạt, tim đập nhanh, mất ngủ, lưỡi nhạt, lớp trắng mỏng, mạch tế trơn. Điều trị nên bổ khí dưỡng huyết, bổ thận an thai. Phương dùng Thai Nguyên Ẩn gia giảm: đảng sâm, thục địa mỗi vị 15g, bạch truật, bạch thược, đỗ trọng, quýt khô mỗi vị 10g, trần bì, chích cam thảo mỗi vị 6g, hoàng kỳ, a giao mỗi vị 20g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống sáng, tối.
3. Loại huyết nhiệt: triệu chứng chính là chảy máu âm đạo trong thai kỳ, màu đỏ tươi, chất dính, hoặc đau tức, căng tức bụng dưới, kèm theo bực bội, lòng bàn tay, bàn chân nóng, khát nước, họng khô, tiểu ngắn vàng, đại tiện táo, hoặc sốt chiều, lưỡi đỏ, lớp vàng khô, mạch trơn số. Điều trị nên dưỡng âm thanh nhiệt, dưỡng huyết an thai. Phương dùng Bảo Âm Giản gia giảm: sơn dược 20g, sinh địa, thục địa, bạch thược, tục đoạn, hoàng bách, hoàng cầm, trúc ma căn, a giao mỗi vị 10g, sinh cam thảo 3g, nữ trinh tử, hạc liên thảo, túc tư tử mỗi vị 15g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống sáng, tối.
4. Loại va chạm tổn thương thai: triệu chứng chính là do chấn thương ngoài thai kỳ, đau lưng, căng tức bụng dưới, hoặc chảy máu âm đạo ít, mạch bình thường. Điều trị nên bổ khí hòa huyết an thai. Phương dùng Thánh Dụ Thang gia giảm: đảng sâm, ích mẫu thảo, túc tư tử mỗi vị 15g, hoàng kỳ 25g, đương quy 20g, sinh địa, thục địa, tục đoạn, sơn dược mỗi vị 10g, xuyên芎 6g. Nếu chảy máu âm đạo, bỏ đương quy, xuyên芎, ích mẫu thảo, thêm a giao 12g, a diệp than 10g, sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia uống sáng, tối.
Trong điều kiện phân biện chứng trị liệu y học cổ truyền, cần chú ý chọn các vị thuốc an thai có hiệu quả thực sự, hiệu quả sẽ tốt hơn.
Xuyên tô: tính hơi ấm, vị ngọt, cay, có công dụng giải biểu phát hãn, khoan trung lợi khí, thuận khí an thai. Phù hợp với cảm cúm phong hàn trong thai kỳ và khí trệ tỳ vị gây ra thai động bất an, ngực sườn căng tức, buồn nôn, nôn mửa, thường phối hợp với trần bì, sa nhân. Quan sát lâm sàng phát hiện, thân xuyên tô an thai hiệu quả hơn lá xuyên tô.
Huang Qin: tính hàn, có công dụng thanh nhiệt trừ thấp, tả hỏa giải độc, lương huyết chỉ huyết, trừ nhiệt an thai, phù hợp với thai nghén tích nhiệt gây ra thai động bất an, thường phối hợp với bạch truật, đương quy. Cũng có thể điều trị tiêu chảy, vàng da do thấp nhiệt trong thai kỳ, ho do phế nhiệt, sốt cao, nhiệt độc cường liệt gây chảy máu, mụn nhọt sưng đau.
Sơn dược: tính bình, vị ngọt, có công dụng khu phong thấp, ích can thận, cường gân cốt, cố xung nhiệm, an thai, thường dùng cho thai động bất an, thai lậu hạ huyết do can thận tinh huyết hư, thường phối hợp với a giao, tục đoạn, túc tư tử.
Thiên hương: tính ấm, vị cay, có thể hóa thấp hành khí, ôn trung chỉ nôn, chỉ tả, an thai. Phù hợp với khí trệ dạ dày gây ra ngực khó chịu, nôn mửa, thai động bất an ở giai đoạn đầu thai kỳ, thường dùng riêng sau khi rang, hoặc phối hợp với xuyên tô, hạc hương, hoàng cầm, bạch truật, đương quy.
A diệp: tính ấm, vị đắng, cay, có công dụng ôn kinh chỉ huyết, tán hàn điều kinh, an thai, phù hợp với hạ nguyên hư hàn hoặc hàn khách vào tử cung gây ra thai lậu hạ huyết, thai động bất an, thường phối hợp với hương phụ, đương quy, tiểu hồi hương, tục đoạn, sơn dược.
Bạch truật: tính ấm, vị ngọt, có công dụng bổ khí kiện tỳ, trừ thấp lợi thủy, hòa trung an thai. Phù hợp với thai động bất an do tỳ hư khí yếu, có thể phối hợp với trần bì, phục linh, đảng sâm, sinh khương. Còn được dùng rộng rãi cho thai nghén tích nhiệt (phối hợp với hoàng cầm, chi tử, bạch thược), huyết hư (phối hợp với đương quy, bạch thược, sinh địa), thận hư (phối hợp với sơn dược, tục đoạn, sơn dư, sơn dược)
Túc tư tử: tính ấm, vị ngọt, có thể bổ thận ích tinh, dưỡng can minh mục, cố nguyên an thai, dùng cho thai động bất an do can thận bất túc, thường phối hợp với tục đoạn, sơn dược, a giao. Còn dùng cho đau lưng do thận hư, tiểu đường, tiểu nhiều, khí hư, thị lực kém do can thận bất túc, tiêu chảy do tỳ thận hư.
Đỗ trọng: tính ấm, vị ngọt, có công dụng bổ can thận, cường gân cốt, an thai, phù hợp với can thận hư, hạ nguyên hư lãnh gây ra thai động bất an, chảy máu thai kỳ, sảy thai tái phát, có thể phối hợp với tục đoạn (nghiền thành bột), thịt táo làm viên uống, hoặc phối hợp với tục đoạn, túc tư tử, a giao sắc uống.
Tục đoạn: tính hơi ấm, vị đắng, cay, có thể bổ can thận, nối gân cốt, thông huyết mạch, an thai, phù hợp với can thận yếu, xung nhiệm bất điều gây ra thai động sắp sảy, phối hợp với sơn dược, túc tư tử, a giao.
A giao: tính bình, vị ngọt, có công dụng bổ huyết chỉ huyết, dưỡng âm nhuận táo, an thai, phù hợp với xung nhiệm bất cố hoặc âm huyết hư tổn gây ra thai động bất an, băng huyết, có thể phối hợp với sinh địa hoàng, a diệp, còn dùng để điều trị kinh nguyệt quá nhiều ở phụ nữ, táo bón sau sinh.
Trúc nhuy: tính hơi lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ nôn, an thai, dùng cho thai nghén tích nhiệt gây ra thai động bất an, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với hoàng cầm, trúc ma căn.
Trúc ma căn: tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lương huyết, giải độc an thai, phù hợp với nhiệt độc cường liệt gây ra thai động bất an, thai lậu hạ huyết, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với a giao, hoàng cầm, đương quy.
Thạch xương bồ: tính ấm, vị cay, đắng, có công dụng khai khiếu an thần, hóa thấp hòa vị, an thai, phù hợp với thấp đàm trung tổ gây ra thai động bất an, đối với việc giảm các triệu chứng như ngực khó chịu, bụng đầy, nôn mửa có hiệu quả tốt, thường phối hợp với sa nhân, sơn truật, hậu bổ.
Quả nho: tính vị ngọt, chua, bình, vào kinh tỳ, phế, thận, có công dụng bổ khí huyết, ích can thận, cường gân cốt, sinh tân dịch, chỉ khát, lợi tiểu.
Quả chanh: tính vị chua, bình, vào kinh tỳ, vị, thận, có công dụng sinh tân chỉ khát, an thai trừ nhiệt, rất hiệu quả đối với chứng thai động bất an do say nắng ở phụ nữ mang thai.
Gan gà: tính vị ngọt, đắng, ấm, vào kinh can, thận, có công dụng bổ can dưỡng huyết, ôn thận ích khí, hiệu quả đối với chứng khí huyết thiếu hụt, thai động bất an sau khi mang thai.
Cá chép: tính vị ngọt, bình, vào kinh tỳ, vị, thận, có công dụng bổ tỳ vị, lợi thủy tiêu thũng, dưỡng huyết thông sữa, phối hợp với trúc ma căn, hiệu quả an thai rất tốt.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]