Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức y học cổ truyền / Tám pháp điều trị đau dạ dày của Trần Bảo QuýBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Tám pháp điều trị đau dạ dày của Trần Bảo Quý

Đau dạ dày là bệnh phổ biến trong lâm sàng, chủ yếu là đau thường xuyên ở vùng bụng trên gần kiếm khâu, thường kèm theo các triệu chứng như ăn kém, ợ hơi, ợ chua, đầy bụng, buồn nôn, thậm chí nôn máu, đi cầu phân đen. Thường gặp trong các bệnh như viêm dạ dày cấp và mạn tính, loét dạ dày - tá tràng, dạ dày sa, co thắt dạ dày, rối loạn thần kinh dạ dày, v.v. Gần 10 năm trở lại đây, trong điều trị loét tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, y học hiện đại chủ yếu dùng thuốc chặn thụ thể H2, thuốc ức chế bơm proton, kết hợp một số thuốc bảo vệ niêm mạc. Những phương pháp này có hiệu quả tốt trong việc giảm đau và làm lành loét trong thời gian ngắn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được. Ví dụ, khoảng 5%–10% bệnh nhân sau nhiều đợt điều trị vẫn không lành hẳn, viêm dạ dày ở đoạn môn vị vẫn tồn tại, loét đã lành dễ tái phát trong vài tháng, ngay cả khi điều trị kéo dài nửa năm, vẫn có 25%–30% bệnh nhân tái phát trong vòng 10 năm. Ngoài ra, dùng lâu dài các thuốc này có thể gây tác dụng phụ như đau đầu, khát nước, phản ứng chậm, do ức chế quá mức axit dạ dày còn gây ra các triệu chứng rối loạn chức năng đường ruột như đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, buồn nôn, nôn. Do đó, làm thế nào để sử dụng y học cổ truyền nâng cao tỷ lệ khỏi, giảm tỷ lệ tái phát và tác dụng phụ là một vấn đề đáng nghiên cứu, khám phá.
Thầy thuốc chuyên gia học thuật kế thừa thứ ba toàn quốc, trưởng khoa bệnh lý tiêu hóa, bệnh viện Trung y quận Vũ Thanh, thành phố Thiên Tân, bác sĩ Trần Bảo Quý, trong quá trình thực hành lâm sàng điều trị bệnh lý tiêu hóa, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đạt hiệu quả rõ rệt. Chúng tôi may mắn được học hỏi, thăm khám dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Trần Bảo Quý, xin giới thiệu tám phương pháp điều trị đau dạ dày và tư tưởng dùng thuốc lâm sàng của ông như sau:
Một, pháp thư can hòa vị
Diệp Thiên Sĩ nói: “Can là nguồn gốc khởi phát bệnh, vị là nơi truyền bệnh”. Can chủ điều tiết, điều hòa khí cơ, hỗ trợ khí vị tăng giảm, do đó pháp thư can hòa vị là phương pháp cơ bản nhất để loại bỏ đau dạ dày. Triệu chứng lâm sàng: đau dạ dày đầy tức, chủ yếu là đầy, hoặc lan ra hai bên sườn, hoặc đầy bụng, tức giận, sinh khí thì phát hoặc nặng hơn, ợ hơi dễ chịu, ngực đầy, thở dài, ăn kém, đầy bụng, đại tiện không畅, lớp phủ lưỡi mỏng trắng hoặc mỏng vàng, mạch căng. Phương dùng Thang Thư can sơ can, thuốc gồm: bạc hà, thược dược, xuyên khung, hương phụ, trần bì, chi tử, cam thảo. Trong đó, bạc hà chủ tán, có thể thăng, dài hạn giúp giãn khí cơ, giải uất, ngoài ra còn có tác dụng dẫn các vị thuốc vào can; chi tử hành khí dẫn trệ, phối hợp với bạc hà, một thăng một giáng, thư can vị, dẫn trệ; bạc hà phối hợp với thược dược dưỡng can, giảm đau, vừa khắc phục độ dính của thược dược, vừa giảm độ khô của bạc hà, vừa bổ vừa tả, tương hỗ, tương khắc; thược dược phối hợp cam thảo, giảm đau, giãn cơ, giảm đau, điều hòa trung vị; hương phụ, trần bì hành khí thư can kiện tỳ; xuyên khung là thuốc hành khí trong huyết, giỏi hành tán giải uất giảm đau. Tất cả các vị thuốc này cùng nhau tạo thành phương thuốc thư can hòa vị.
Lâm sàng nếu thấy can uất hóa hỏa, khí hỏa thượng ngược, thì kèm theo các triệu chứng như đau đầu, đầu nặng, mắt đỏ, miệng đắng, dễ cáu gắt, đau sườn như cháy, có thể thêm đan bì, xuyên liên, tả kim hoàn; đau tức nặng thêm có thể thêm ngưu hoàng, trầm hương, uất kim; ợ hơi nhiều thêm thang Huyền phực đại trắc; đầy bụng thêm hậu bộc, bá lan; ngực đầy khó chịu thêm Phật thủ, hương nguyên, sa nhân, quan lầu, v.v.
Hai, pháp dưỡng âm ích vị
Đau dạ dày kéo dài, uất nhiệt tổn âm, vị không được dưỡng, dần dần dẫn đến đau dạ dày. Lâm sàng biểu hiện: đau âm ỉ hoặc bỏng rát ở dạ dày, cảm giác khó chịu, ợ hơi, họng khô miệng khát, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít nước hoặc tróc lớp phủ, lớp phủ lưỡi có vết nứt nhỏ, mạch nhỏ căng hoặc tế sốt. Điều trị bằng dưỡng âm ích vị, phương dùng Thang Dưỡng Vị hợp Thang Thược dược cam thảo gia giảm, thuốc gồm: sa sâm, mạch đông, sinh địa, ngọc trúc, thạch hộc, thược dược, cam thảo.
Lâm sàng nếu thấy dạ dày khó chịu, ợ chua, có thể thêm tả kim hoàn; âm hư buồn nôn có thể thêm trúc nhự, lao căn, bán hạ; giảm tiết axit dạ dày có thể thêm ô mai, tam tiên tiêu, v.v.; đại tiện khó khăn thêm quan lầu, bá lan, đại hoàng.
Ba, pháp kiện tỳ ôn vị
Ăn uống thất điều, tổn thương tỳ vị, bệnh dạ dày kéo dài không khỏi, dần dần khiến dương khí tỳ vị suy yếu, dương hư sinh hàn, mạch vị không được ấm; hoặc tỳ vị vốn yếu, đều có thể dẫn đến đau dạ dày. Lâm sàng biểu hiện: đau dạ dày âm ỉ, thích ấn, ăn kém, ợ hơi, đầy bụng, da mặt nhợt nhạt, tứ chi mệt mỏi, gầy dần theo thời gian, đại tiện lỏng, tay chân lạnh, sợ lạnh, lưỡi nhạt lớp phủ trắng bết, mạch trầm yếu. Điều trị bằng ôn vị kiện tỳ, phương dùng Thang Hoàng kỳ kiến trung hợp Thang Tứ quân tử gia giảm, thuốc gồm: hoàng kỳ chế, quế chi, thược dược, đảng sâm, bạch truật, phục linh, trần bì, bán hạ, cam thảo, sinh khương, táo.
Lâm sàng nếu thấy đầy nặng thêm mộc hương, phật thủ; đại tiện lỏng thêm hạc hương, sơn dược, nhục đậu khấu; ăn kém thêm sa nhân, kê nội kim, tam tiên tiêu; đau lạnh bụng dùng ngưu hoàng phối hợp ngũ gia bì; ợ chua thêm hải tiêu hoặc nung vẩy, tô diệp.
Bốn, pháp hóa trệ khai vị
Ăn uống quá mức, uống nhiều, dừng đọng thức ăn dẫn đến khí cơ trong dạ dày bị tắc, gây đau dạ dày. Lâm sàng biểu hiện: đau bụng đầy, ấn đau, ăn không ngon, ợ chua, buồn nôn, nôn ra thì đau giảm, hoặc đại tiện không thoải mái, lớp phủ lưỡi dày bết, mạch dây trơn. Điều trị bằng tiêu thực dẫn trệ, khai vị giảm đau, phương dùng Thang Bảo hòa gia giảm, thuốc gồm: sơn tra, thần khúc, bán hạ, trần bì, phục linh, liên kiều, lai phục tử. Trong đó, sơn tra, thần khúc, lai phục tử phối hợp dùng, tiêu hóa các loại tích tụ thịt, rượu, lúa, mì; bán hạ, trần bì vừa có hiệu quả tán kết, vừa có công dụng hạ trọc hóa khí; phục linh kiện tỳ hành thấp; liên kiều thanh nhiệt, giải uất. Tất cả các vị thuốc cùng nhau tạo thành phương thuốc hóa trệ khai vị, tích tụ tan thì đau dạ dày tự hết.
Lâm sàng nếu thấy bụng đầy khí nhiều, đau nặng thêm, có thể thêm chi tử, sa nhân, bá lan, v.v. để hành khí tiêu trệ.
Năm, pháp tả nhiệt thanh vị
Can khí uất lâu hóa nhiệt, tà nhiệt xâm nhập dạ dày, gây đau dạ dày. Lâm sàng biểu hiện: đau dạ dày bỏng rát, bồn chồn dễ nổi giận, ợ chua, khó chịu, miệng khô, miệng đắng, mạch dây sốt. Phương dùng Thang Hóa can giảm, hợp tả kim hoàn gia giảm, trong đó thanh bì, trần bì, đan bì, chi tử dùng cùng nhau, tăng công hiệu tả nhiệt, thanh huyết, an vị; thêm ngũ gia bì chút ít, lấy hiệu quả tán kết, hợp với phương pháp tả nhiệt thanh nhiệt, khai mở. Dùng thược dược, cam thảo nhằm mục đích acid ngọt hóa âm, giảm đau, vừa phòng ngừa tổn thương âm vị do nhiệt uất, vừa tăng hiệu quả giảm đau.
Lâm sàng nếu thấy buồn nôn, có thể thêm bán hạ, trúc nhự; ợ chua thêm hải tiêu, nung vẩy.
Sáu, pháp khu thấp kiện vị
Dù là thấp tà ám ảnh tỳ vị, hay chức năng tỳ vị rối loạn, sinh ra thấp tà, thì thấp tà trong bệnh lý tỳ vị là điều không thể bỏ qua. Lâm sàng đau dạ dày do thấp uất biểu hiện: đau dạ dày âm ỉ, dai dẳng, vị giác nhạt, hoặc khát nhưng không uống, còn kèm theo mệt mỏi, cơ thể nặng nề, đau khớp, đại tiện lỏng, đầu nặng như bị bao bọc, lưỡi nhạt lớp phủ bết, mạch trầm tế hoặc nhu. Điều trị bằng phương pháp kiện tỳ khu thấp, phương dùng Thang Nhị trần gia vị, thuốc chọn bán hạ, trần bì, phục linh, cam thảo, xuyên khung, thương truật, hậu bộc, hạc hương, v.v. Trong đó dùng thương truật, xuyên khung, phục linh thơm hóa, khử thấp, kết hợp tăng hiệu quả thơm hóa của hạc hương, tăng công hiệu khử thấp, hạ trọc, kiện vị của trần bì, bán hạ, hậu bộc, cùng nhau tạo thành phương thuốc khu thấp kiện tỳ vị.
Lâm sàng nếu thấy thấp nhiệt tích tụ, có thể thêm xe tiền thảo, ngân trần, hoàng liên, v.v.
Bảy, pháp hóa ứ điều vị
“Dạ dày là biển của thực phẩm và khí huyết”, do đó bệnh lý tỳ vị dễ tổn thương khí và huyết, xâm nhập vào mạch vị gây huyết ứ. Lâm sàng biểu hiện: đau dạ dày như kim châm, cố định, kéo dài, ngày nhẹ đêm nặng, lâu ngày không khỏi, thậm chí nôn máu, đi cầu phân đen, lưỡi tím đen, hoặc có điểm bầm, vết bầm, mạch trầm sáp hoặc tế sáp. Điều trị bằng phương pháp ôn trung lý vị, hoạt huyết hóa ứ, phương dùng Thang Đào hồng kiến trung, thuốc gồm: đào nhân, hồng hoa, quế chi, thược dược, sinh khương, táo, dì đường, cam thảo, v.v. Trong đó, dì đường bổ khí vị, dưỡng âm vị, ôn bổ trung tiêu, đồng thời giảm đau gan; quế chi ôn dương khí, thược dược bổ âm huyết, cam thảo chế ngọt ôn bổ khí, phối hợp với dì đường bổ khí, sinh khương ôn vị, táo bổ tỳ, cùng nhau ôn trung bổ can, dưỡng tỳ, thúc đẩy khí sinh phát trung tiêu; đào nhân, hồng hoa hoạt huyết hóa ứ. Tất cả các vị thuốc phối hợp, cùng nhau tạo hiệu quả ôn trung bổ hư, điều lý giảm đau, hóa ứ, khiến khí tỳ vận hành, khí huyết lưu thông, khí vị điều hòa, mạch vị được nuôi dưỡng, đau dạ dày tự hết.
Lâm sàng nếu thấy ăn kém, kém hấp thu, thêm kê nội kim, tam tiên tiêu; buồn nôn, nôn thêm trúc nhự, bán hạ. Thầy Trần thường thêm một vị bạch kỷ, vị thuốc này vị đắng, tính khô, vào kinh phổi và vị, đi vào huyết phân, có độ dính cao, cầm máu, giảm sưng, liền sẹo, không chỉ cầm máu, hóa ứ, thông kinh giảm đau, mà còn cải thiện các triệu chứng như đầy bụng, khó chịu, v.v., thúc đẩy lành vết loét niêm mạc dạ dày, thường được chọn làm vị thuốc hàng đầu để bảo vệ niêm mạc, giảm đau. Nếu chảy máu nhiều, thường phối hợp dùng thuốc Vân Nam Bạch Dược uống để cầm máu, giảm đau.
Tám, pháp khai khiếu tỉnh vị
Tâm chủ thần trí, là chủ quản của năm tạng lục phủ, y học cổ truyền cho rằng “tâm não tương thông”.《Ngữ y hội giảng》đề cập: “Quyền lực của dạ dày nằm ở tâm”, thể hiện đầy đủ chức năng hoạt động của dạ dày do tâm não điều khiển và chi phối.《Sơ Vấn – Mạch giải thiên》nói: “Dương minh lạc thuộc tâm”, cũng cho thấy dạ dày và tâm não liên hệ mật thiết. Nếu tâm thần mất điều hòa (kể cả sau bệnh mạch máu não) có thể ảnh hưởng đến chức năng tỳ vị, khiến đàm thấp ám ảnh tỳ, xuất hiện các triệu chứng như ăn kém, đầy bụng, đau âm ỉ, đại tiện lỏng, v.v., ngược lại chức năng tỳ vị rối loạn cũng ảnh hưởng đến tâm thần. Thầy Trần cho rằng mối quan hệ tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau giữa tỳ vị và tâm thần rất có ý nghĩa trong hướng dẫn điều trị đau dạ dày. Ông đề xuất lý luận “tỳ vị liên quan tâm (não)”, vận dụng pháp khai khiếu tỉnh vị, tự sáng chế Thang khai khiếu tỉnh vị, phối hợp với viên thuốc hồi thần đan tự chế có tác dụng bổ thận hoạt huyết, hóa đàm khai khiếu để điều trị.
Thuốc gồm: cát căn, bán hạ, trần bì, đan tinh, chi tử, phục linh, bạch xuyên, viễn chí, đào nhân, sa nhân, kê nội kim, tam tiên tiêu, v.v.
Bác sĩ Trần Bảo Quý điều trị đau dạ dày ngoài tám phương pháp cơ bản trên, để nâng cao hiệu quả chẩn trị, đối với sự khác biệt về nguyên nhân bệnh lý, cơ chế bệnh lý và các chứng kèm theo phức tạp, trong việc lựa chọn thuốc và phương thuốc, còn có một số kinh nghiệm như sau.
1. Bác sĩ Trần Bảo Quý luôn nhấn mạnh “cẩn thận nắm giữ cơ chế bệnh, mỗi vị thuốc phải phù hợp với chứng bệnh”, xét bệnh theo chứng, phân biệt chứng để chữa bệnh. Đau dạ dày là triệu chứng chính của nhiều bệnh dạ dày, cần kết hợp giữa phân biệt chứng và phân biệt bệnh, chú trọng và kết hợp với thành quả nghiên cứu hiện đại, phục hồi chức năng sinh lý của tỳ vị, mới có thể nâng cao hiệu quả điều trị bằng y học cổ truyền. Tỳ chủ vận hóa, tính thăng thanh, là tạng âm, thích khô, ghét ẩm, bệnh thường hóa hàn; vị chủ dung nạp, tiêu hóa, khí chủ giáng, là tạng dương, thích ẩm, ghét khô, bệnh thường hóa nhiệt. Khi tỳ vị bị bệnh, chức năng thăng giáng bị rối loạn, hàn nhiệt mất cân bằng, vận hóa thất chức, dẫn đến thấp tà ám ảnh, thấp nhiệt tích tụ, đàm thực giao kết, trong lâm sàng xuất hiện các triệu chứng như đau dạ dày, đầy tức, khó chịu, ợ chua, v.v. Thầy Trần nhấn mạnh phục hồi chức năng sinh lý của tỳ vị, mục tiêu điều trị là phục hồi chức năng tỳ vị, khiến âm dương hài hòa, thăng giáng tương ứng, ẩm khô tương hỗ.
(1) Điều chỉnh khí cơ thăng giáng: ví dụ như khi có cả hư khí trung hạ và khí trệ khí nghịch, biểu hiện như ợ hơi, buồn nôn, bụng đầy, sa trực tràng, đại tiện lỏng, thậm chí sa trực tràng, thường dùng thang thăng ma phối hợp trầm hương, thang thăng bì phối hợp chi tử, thang hạc hương phối hợp bán hạ, thang hà diệp phối hợp phục linh, thang bạch xuyên phối hợp hậu bộc, v.v.
(2) Kết hợp hoạt huyết thông lạc: bệnh dạ dày mới phát thường ở khí, lâu ngày vào lạc, đây là quy luật thường thấy, tuy nhiên thầy Trần điều trị bệnh dạ dày ở khí phân cũng thêm một hai vị thuốc huyết phân, như đan sâm, xích thược, xuyên khung, đào nhân, hồng hoa, đương quy, v.v. Vì viêm dạ dày mạn tính có hiện tượng sung huyết, phù nề hoặc loét, chảy máu, khiến mô thành dạ dày thiếu oxy, rối loạn dinh dưỡng. Y học cổ truyền cho rằng khí chủ nhiệt, huyết chủ dưỡng, dùng thuốc khí ít thêm thuốc huyết, có lợi cho cải thiện tình trạng cung cấp máu thành dạ dày, thúc đẩy phục hồi.
(3) Kết hợp tiêu và bổ, ẩm và khô, động và tĩnh: nắm vững nguyên tắc bổ tỳ không gây trệ khí, ví dụ hoàng kỳ phối hợp trần bì, bạch truật phối hợp chi tử; vì dạ dày khô, tỳ ẩm song hành, cần dưỡng vị không trợ ẩm, dùng thạch hộc phối hợp hạc hương, mạch đông phối hợp bán hạ, hoa phấn phối hợp ý dĩ nhân, lao căn phối hợp hà diệp, v.v. Đồng thời khi dùng thuốc tính ấm, thơm, khô, cần nắm vững nguyên tắc thư can không quên an vị, lý khí thận trọng không tổn âm; đối với chứng hư hàn kết hợp, thực nhiều hư ít, nên dùng các vị thuốc bổ bình thường như bạch đậu, sơn dược, đảng sâm; chứng thực dùng phương tiêu, cũng cần cân nhắc mức độ nặng nhẹ, cấp tốc, thể hiện đặc điểm dùng thuốc nhẹ nhàng, bảo vệ tỳ vị.
2. Trong lựa chọn thuốc cũng rất có kỹ thuật, ví dụ như hòa vị thường dùng thược dược, hà diệp, trần bì, v.v.; ích vị thường chọn thạch hộc, ngọc trúc, sa sâm, v.v.; dưỡng vị thường dùng mạch đông, phật thủ, hạc hương, v.v.; thanh vị thường dùng thanh bì, đan bì, hoàng liên, v.v.; ôn vị thường dùng quế chi, ngũ gia bì, tế tâm, v.v.; kiện vị thường dùng bạch truật, phục linh, sơn dược, thương truật, v.v.; khai vị thường dùng sa nhân, hậu bộc, thảo khấu, v.v.
3. Thầy Trần còn rất nhấn mạnh tầm quan trọng của “điều trị trung tiêu như cân, không bằng không ổn”. Cụ thể thể hiện trong lâm sàng, một mặt phải căn cứ vào tình trạng hư, thực, hàn, nhiệt của bệnh nhân, dùng tính thuốc để điều chỉnh sự lệch lạc bệnh lý, giúp chức năng tỳ vị đạt trạng thái cân bằng bình thường; mặt khác, phải cân nhắc đặc điểm và chức năng đối lập thống nhất của trung tiêu tỳ vị, khi dùng thuốc cần cân bằng chứ không thiên lệch. Bác sĩ Trần Bảo Quý chỉ ra, dù mỗi trường hợp bệnh lý cụ thể khác nhau, nhưng nguyên tắc nhóm thuốc phải tuân theo là: bổ và tiêu cùng lúc, thăng và giáng điều hòa, ẩm và khô cân bằng, hàn và nhiệt kết hợp, khí và huyết điều trị cùng lúc, động và tĩnh kết hợp.
Ví dụ điển hình 1
Châu某某, nam, 45 tuổi, khám lần đầu ngày 12 tháng 3 năm 2002. Đau dạ dày tái phát 15 năm, thường nặng hơn khi bị lạnh hoặc làm việc quá sức, qua nội soi dạ dày, chẩn đoán là viêm dạ dày mạn tính nông. Gần một tháng nay, do bị lạnh nên tái phát. Triệu chứng: đau dạ dày đầy tức, đau như kim châm, đau cố định, đau từng cơn, không theo quy luật, đau khi ấm thì giảm, ăn kém, mệt mỏi, đại tiện hơi lỏng, lưỡi tím có vết bầm, lớp phủ lưỡi mỏng trắng, mạch căng tế. Đây là chứng tỳ vị hư yếu, dương tỳ không đủ, trung tiêu hư hàn, vận hóa thất chức, lâu bệnh không khỏi lại dẫn đến khí cơ không thông, huyết ứ nội kết, điều trị cần ôn trung bổ hư, hóa ứ giảm đau. Phương dùng Thang Đào hồng kiến trung gia vị. Thuốc: đào nhân 10g, hồng hoa 10g, quế chi 10g, thược dược 20g, sinh khương 3 miếng, táo 5 quả, dì đường 30g, cam thảo chế 6g, kê nội kim 10g, tam tiên tiêu mỗi loại 10g. Sau 7 liều, đau dạ dày giảm rõ rệt, ăn nhiều hơn, tinh thần tốt hơn. Tiếp tục dùng 7 liều theo đơn cũ, các triệu chứng cải thiện rõ rệt, lưỡi đỏ hồng. Hiệu quả không đổi, điều trị thêm nửa tháng, dùng 15 liều, đau dạ dày hoàn toàn biến mất. Nội soi dạ dày复查, bệnh đã khỏi. Theo dõi một năm, không tái phát.
Ví dụ điển hình 2
Lý某某, nam, 75 tuổi, khám lần đầu ngày 18 tháng 8 năm 2003. Chủ yếu là ăn kém, miệng nhầy, đầy bụng đau âm ỉ, đôi khi ợ hơi, đã điều trị nhiều nơi nhưng không hiệu quả rõ rệt. Một năm trước từng bị đột quỵ, khám thấy lưỡi tím, lớp phủ lưỡi mỏng trắng, mạch dây trơn. Bệnh nhân thuộc trường hợp sau đột quỵ, đàm thấp ám ảnh tỳ vị. Điều trị bằng khai khiếu tỉnh vị, phối hợp hoạt huyết, phương dùng Thang khai khiếu tỉnh vị tự chế. Thuốc: cát căn 20g, bạch xuyên 20g, sa nhân 10g, bán hạ 10g, trần bì 10g, tam tiên tiêu mỗi loại 10g, kê nội kim 10g, lai phục tử 10g, linh chi 5g, đào nhân 10g, phật thủ 10g, hương nguyên 10g, cam thảo 10g. Sau 7 liều, miệng nhầy giảm rõ rệt, ăn uống tăng nhẹ, vẫn đôi khi ợ hơi, thêm liên kiều 15g, uất kim 10g vào đơn cũ để tăng hiệu quả hành khí tán kết, sau 7 liều, triệu chứng cải thiện rõ rệt, không còn đau âm ỉ, đầy bụng, ăn uống bình thường, không còn miệng nhầy, ợ hơi, v.v., lưỡi đỏ nhạt, lớp phủ lưỡi mỏng trắng, mạch dây. Hiệu quả không đổi, tiếp tục dùng 7 liều, đồng thời uống viên hồi thần đan tự chế, đến nay chưa tái phát.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]