Phổi khí thũng tắc nghẽn là trạng thái bệnh lý do phế nang cuối cùng (bao gồm phế quản hô hấp, ống phế nang, túi phế nang và phế nang) giãn nở, kèm theo tổn thương thành khe khí. Bệnh do các yếu tố như ô nhiễm không khí, hút thuốc lá và nhiễm trùng phổi mãn tính gây ra viêm phế quản mạn tính, sau đó tiến triển thành. Hen suyễn phổi, xơ phổi cũng có thể dần tiến triển thành bệnh này. Bệnh này thuộc phạm vi “thuyên chứng” trong Đông y, cụ thể là “thuyên hư”. [Biểu hiện lâm sàng] 1. Có tiền sử ho, khạc đàm kéo dài nhiều năm, triệu chứng thường nặng hơn vào mùa đông. Theo tiến triển bệnh, dần xuất hiện khó thở, thở gấp, ngực đầy, nặng hơn khi vận động. 2. Khi có nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, ho, khạc đàm, khó thở rõ rệt tăng nhanh, có thể xuất hiện khó thở, tím tái và các triệu chứng tăng áp động mạch phổi. 3. Tiến triển đến giai đoạn cuối, có thể dẫn đến suy hô hấp và suy tim phải. [Chẩn đoán] 1. Người trung niên, tuổi trên 40, có tiền sử ho, thở khò khè, kèm theo các dấu hiệu khó thở, khó thở, tím tái ngày càng nặng. 2. Cấu trúc ngực dạng thùng, gõ phổi ra âm vang quá mức, ranh giới gan hạ xuống, âm phổi và âm nói giảm, thì thở kéo dài, đôi khi nghe thấy tiếng rít khô, ướt. Ranh giới tim thu hẹp, âm tim thấp, xa. 3. Chụp X-quang: Hai phổi trong suốt tăng, các mạch máu ở vùng ngoài phổi mảnh, thẳng, thưa. Tim hình dáng dọc, phình vòm phổi phẳng. 4. Đo chức năng phổi: Thể tích khí dư / tổng thể tích phổi vượt quá 35%. Giá trị FEV1/FVC thấp hơn 60%, hoặc dung lượng thông khí tối đa chiếm dưới 80% giá trị dự kiến. Phân bố khí không đều, nồng độ khí phế nang cao hơn 2,5%. 5. Bệnh này cần phân biệt với xơ phổi khu trú, bệnh tim phổi mạn tính, v.v. [Điều trị] Điều trị Đông y (1) Phế tỳ thận khí âm song hư: Khó thở, thở ngắn, vận động càng nặng, khí không đủ, ho, đàm ít, dính, miệng khô, bàn tay, bàn chân nóng, ra mồ hôi tự phát, đổ mồ hôi ban đêm, lưỡi nhợt đỏ, phủ lớp ít, mạch tế số yếu. Pháp điều trị: Bổ phế kiện tỳ, bổ thận, ích khí dưỡng âm. Phương thuốc: Thái tử sâm 15g, mạch môn 30g, ngũ vị tử 10g, thục địa 15g, sơn dư nhục 15g, sơn dược 15g, đan bì 10g, bạch linh 30g, trạch tả 10g, bạch hợp 30g, sinh hoàng kỳ 30g, đan sâm 30g, xuyên bối bột 6g (phụng). Thuốc Đông y sẵn có: Mạch vị địa hoàng hoàn, sinh mạch khẩu phục dịch. (2) Phế tỳ thận dương khí hư tổn: Khó thở kéo dài, hít vào dài, thở ra ngắn, vận động càng nặng, đàm trong, sợ lạnh, mệt mỏi, đau lưng, đau gối, mặt phù, chân phù, môi tím, mặt xanh xám, lưỡi nhợt, phủ lớp trắng, mạch trầm tế yếu. Pháp điều trị: Bổ phế kiện tỳ, ôn thận, nạp khí bình thuyên. Phương thuốc: Nhân sâm 10g, bạch truật 10g, sinh hoàng kỳ 30g, bạch linh 15g, thục phụ tử 6g, thục địa 15g, sơn dư nhục 15g, sơn dược 15g, đan bì 10g, bạch linh 15g, trạch tả 10g, tiên linh tỳ 10g, tử hà车 10g, đan sâm 30g, mạch môn 30g, xuyên bối bột 6g (phụng). Thuốc Đông y sẵn có: Bạch lệnh thang, kim quý thận khí hoàn. (3) Giai đoạn nhiễm trùng phối hợp chứng thuyên thực tham chiếu điều trị viêm phế quản mạn tính theo chứng trạng. (4) Phương thuốc Đông y và châm cứu ① Tây dương sâm 50g, há cắn 2 con, đông trùng hạ thảo 30g, tạng hồng hoa 10g, xuyên bối mẫu 50g, nghiền thành bột, cho vào viên, mỗi lần 3–4 viên, ngày 3 lần. Dùng để điều trị căn bản hàng ngày. ② Phương pháp cứu: Lấy huyệt Phế du, Cao lương, Tỳ du, Thận du, cứu bằng gừng, mỗi huyệt 3–5 đốt, mỗi ngày 1 lần. [Phòng ngừa và dưỡng sinh] 1. Thực hiện luyện tập thể thao và huấn luyện hô hấp. 2. Tránh cảm lạnh, cảm cúm và kích thích tình cảm. 3. Kiêng rượu, thuốc lá, thực phẩm béo, giàu mỡ và tiếp xúc với khí kích thích. 4. Nấu cháo từ táo đỏ, sơn dược, bạch hợp, hạt hồ đào.
|