Các triệu chứng của ung thư phổi rất phức tạp, thường khác nhau tùy vị trí, kích thước, loại, giai đoạn phát triển của khối u và có di căn hay biến chứng hay không. Giai đoạn đầu có thể không có triệu chứng, hoặc triệu chứng nhẹ. Ung thư phổi trung tâm xuất hiện triệu chứng sớm hơn, ung thư phổi ngoại biên muộn hơn. Thường thấy các triệu chứng như ho, khạc ra máu, đau ngực, sốt, khó thở, v.v., thường gặp trong các chứng trạng của ung thư phổi. Đặc điểm chứng trạng được phân tích như sau: 1. Ho: Là triệu chứng sớm phổ biến nhất, bệnh nhân thường có ho đột ngột, ho tắc nghẽn âm thanh cao, không có đàm hoặc chỉ có một ít đàm nhầy trắng. Nếu khạc đàm không thuận lợi, hoặc đàm tích nhiệt thì ho tăng nặng, kèm theo đàm vàng đặc, dính, lưỡi đỏ, phủ lớp vàng, mạch số, lâu ngày thì phổi âm và phổi khí đều bị tổn thương. Tổn thương phổi âm thì thấy ho khan, khạc ra máu, sốt thấp, đổ mồ hôi ban đêm, lưỡi đỏ, v.v.; tổn thương phổi khí thì thấy tiếng ho yếu, thở ngắn, ra mồ hôi tự phát, mệt mỏi, lưỡi nhợt đỏ, v.v. Ở giai đoạn cuối thấy tiếng ho yếu, ngồi thở, giọng nói khàn, môi tím, mặt phù, chân phù, v.v., là các chứng biểu hiện suy kiệt khí huyết âm dương. 2. Khạc ra máu: Ở giai đoạn đầu, gần khí đạo có thể xuất hiện khạc ra máu đầu tiên, lúc xuất hiện lúc không, lượng có thể nhiều hoặc ít, màu có thể đỏ tươi hoặc thẫm, có bọt, hoặc đàm lẫn máu không trộn lẫn, kèm theo mô chết ra; nếu mạch lớn bị vỡ hoặc ổ ung thư vỡ tạo thành hốc thì có thể xuất huyết không ngừng, hoặc tắc nghẽn khí đạo gây ngạt thở, hoặc khí theo máu thoát ra gây tử vong đột ngột. Khạc ra máu do hư chứng thường không tự dừng, đàm máu trộn lẫn, lâu không ngừng. Nhưng thường là trước thực sau hư, hỗn hợp thực hư. 3. Đau ngực: Bệnh nhân thường có đau ngực mức độ khác nhau. Ở giai đoạn đầu, đau ngực không rõ, ngực đầy tức, đau không cố định, chủ yếu do khí trệ; giai đoạn cuối, tà độc xâm nhập, huyết ứ không thông thì đau về đêm nặng hơn, cố định, đau như kim châm, thậm chí suốt ngày không ngừng, đau không chịu nổi, thậm chí phá xương hủy thịt, đau không chịu được, không thể chạm, không thể xoay người. 4. Khó thở: Giai đoạn đầu, chính khí chưa suy yếu nhiều, thở nhanh, tiếng to, ngực bí, khó thở, thường gặp chứng thực. Giai đoạn cuối, tà độc ngày càng nặng, phế khí và phế âm đều bị tổn thương, thì thở ngắn, thở khẽ, ngực bí nhưng không quá gấp, do thiếu khí không đủ để thở, nên vận động càng nặng, nghỉ ngơi thì thích nằm, không chịu làm việc nặng, hơi thở yếu, đây là chứng tà thực mà chính hư. 5. Sốt: Là chứng thường gặp ở ung thư phổi, thông thường thuộc âm hư nội nhiệt, nên thấy sốt buổi chiều hoặc ban đêm, hoặc bàn tay, bàn chân nóng, kèm theo phiền muộn, đổ mồ hôi ban đêm, miệng khô, họng khô, v.v.; sốt cũng có thể do đàm ư nội chặn, độc nhiệt nội tàng gây ra, nhiệt độ cao, kéo dài không hạ. Ở giai đoạn cuối, khối u ác tính có thể gây ra các chứng suy nhược và hư tổn. Các triệu chứng do di căn xa ở các vị trí khác nhau thường gây ra các triệu chứng tương ứng. 【Nguyên nhân bệnh lý】 Cho đến nay, nguyên nhân gây ung thư phổi vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn. Nhưng dựa vào quá trình khởi bệnh và biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân, có thể thấy bệnh này liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm chính khí và xâm nhập của tà độc. 1. Chính khí nội hư: “Chính khí tồn tại bên trong, tà không thể xâm nhập”; “Tà之所凑, kỳ khí tất hư”. Chính khí nội hư, âm dương các tạng phủ mất cân bằng, là nền tảng chính gây ra ung thư phổi, gọi là “tích thành giả, chính khí bất túc, hậu tà khí cứ chi”. Người già thể lực suy yếu, bệnh phổi mãn tính, phế khí bị hao tổn, không đủ; hoặc do thất tình tổn thương, khí nghịch khí trệ, thăng giáng mất cân bằng; hoặc do lao động quá mức, phế khí, phế âm bị tổn thương, tà khí xâm nhập từ bên ngoài, khách tà lưu lại không đi, khí cơ không thông suốt, cuối cùng dẫn đến huyết hành ứ trệ ở phổi, kết thành khối. 2. Nhiễm độc khói thuốc: Nhà y học đời Thanh Cố Tùng Nguyên cho rằng: “Khói thuốc là kẻ thống lĩnh của vị cay nóng.” Hút thuốc lâu dài, nhiệt thiêu tân dịch, âm dịch nội tổn, dẫn đến phế âm không đủ, khí theo âm suy yếu, cộng với khí độc khói thuốc nội tàng, lưu lại ở phế khiếu, tắc nghẽn đường thở, gây ra đàm thấp ứ huyết kết tụ, hình thành khối u. 3. Tà độc xâm nhập phổi: Phổi là tạng quý, dễ bị xâm nhập bởi tà độc, ví dụ như khí thải công nghiệp, amiăng, bụi khoáng, khói than đá, chất phóng xạ, v.v., khiến phế khí không thể tản giáng, phế khí ứ trệ không thông, sau đó huyết ứ không thông, độc ứ kết hợp, lâu ngày hình thành khối u. 4. Đàm thấp tụ phổi: Tỳ là nguồn gốc sinh đàm, phổi là nơi chứa đàm. Tỳ chủ vận hóa, nếu tỳ hư vận hóa mất cân bằng, tinh vi thực phẩm không thể sinh hóa và vận chuyển, dẫn đến thấp đọng sinh đàm, lưu lại ở phổi; hoặc do ăn uống không điều độ, thủy thấp đàm trọc nội tụ, đàm lưu ở phế lạc, phế khí tuyên phát và tản giáng mất cân bằng, đàm nghẹn khí trệ, sau đó dẫn đến khí huyết ứ trệ, độc tụ tà lưu, ứ kết ở ngực, khối u dần dần hình thành. Tóm lại, ung thư phổi là do chính khí suy hư, âm dương mất cân bằng, tà độc xâm nhập phổi, tà lưu lại ở phổi, dẫn đến rối loạn chức năng phổi, phế khí ứ trệ, tuyên phát và tản giáng mất chức năng, khí cơ bất lợi, huyết hành bị cản trở, tân dịch không thể vận chuyển, tân tụ thành đàm, đàm nghẹn khí trệ, huyết ứ tắc mạch, cuối cùng huyết độc kết tụ, lâu ngày hình thành khối tích ở phổi. Vì vậy, ung thư phổi là bệnh do hư mà mắc, do hư mà thành thực, là một bệnh toàn thân hư, chỗ tổn thương thực. Sự hư ở đây chủ yếu là âm hư, khí âm song hư, còn thực thì không ngoài khí trệ, huyết ứ, đàm nghẹn, độc tụ. 【Chẩn đoán】 1. Ho đột ngột, ho dai dẳng kéo dài hàng tuần không khỏi, hoặc ho ra máu, đàm, hoặc đau ngực dai dẳng, khó thở, sốt không rõ nguyên nhân, hoặc kèm theo gầy yếu, mệt mỏi, v.v. 2. Tuổi từ 40 trở lên, nam giới có tiền sử hút thuốc lâu dài. 3. Xét nghiệm tế bào đàm là một trong những phương pháp chẩn đoán khách quan quan trọng đối với ung thư phổi, tỷ lệ dương tính khoảng 80%, nhiều lần xét nghiệm tỷ lệ dương tính tăng. 4. Chụp X-quang ngực, chụp CT, chụp phim nhuộm dầu khí quản, hỗ trợ chẩn đoán sớm ung thư phổi. 5. Nội soi khí quản, xác định tính chất tổn thương, cũng là phương pháp quan trọng để phát hiện ung thư phổi trung tâm giai đoạn sớm. Ngoài ra, đối với các trường hợp nghi ngờ cao là ung thư phổi, nếu các xét nghiệm trên không chẩn đoán được, có thể thực hiện sinh thiết phổi hoặc phẫu thuật thăm dò ngực kịp thời. 【Chẩn đoán chứng trạng】 1. Chẩn đoán hư thực: Việc phát sinh ung thư phổi thường liên quan đến phế khí hư, đàm thấp huyết ứ giao kết. Ở giai đoạn đầu, thường gặp chứng khí trệ huyết ứ, đàm thấp độc ứ, chủ yếu là tà thực; ở giai đoạn cuối, thường gặp chứng âm hư độc nhiệt, khí âm song hư, chủ yếu là chính hư. Lâm sàng, bệnh thường phức tạp, hư thực giao nhau. 2. Chẩn đoán thịnh suy tà chính: Ung thư phổi là khối u ác tính cao, phát triển nhanh, biến đổi nhanh. Chẩn đoán thịnh suy tà chính là chìa khóa để nắm vững nguyên tắc điều trị bổ chính khu tà, và lựa chọn phương thuốc hợp lý. Nói chung, nếu khối u phổi rõ ràng, triệu chứng rõ, nhưng thể hình còn đầy đặn, sinh hoạt, thể lực, vận động, ăn uống chưa bị ảnh hưởng, lúc này thường là tà khí thịnh mà chính khí còn đầy đủ, là thời điểm tranh chấp giữa tà và chính; nếu phổi bị xâm phạm rộng rãi hoặc di căn nhiều nơi, tình trạng toàn thân kém, gầy yếu, mệt mỏi, suy nhược, ăn ít, sinh hoạt khó khăn, triệu chứng phức tạp, đa dạng, thường là tà độc thịnh mà chính khí rõ ràng suy yếu, chứng chính hư tà thực. 【Nguyên tắc điều trị】 Bổ chính khu tà, điều trị cả gốc và triệu chứng là nguyên tắc cơ bản điều trị ung thư phổi. Bệnh này tổng thể thuộc hư, chỗ tổn thương thuộc thực, chính hư là bản, tà thực là biểu. Ở giai đoạn đầu, chủ yếu là tà thực, điều trị nên hành khí hoạt huyết, hóa ứ mềm kiên, thanh nhiệt hóa đàm, lợi thấp giải độc; ở giai đoạn cuối, chủ yếu là chính hư, điều trị nên bổ chính khu tà, tùy từng trường hợp dùng các phương pháp dưỡng âm thanh nhiệt, giải độc tán kết, ích khí dưỡng âm, thanh hóa đàm nhiệt, v.v. Lâm sàng còn phải căn cứ vào tình trạng hư thực giao nhau, và tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân, xử lý hợp lý theo ưu tiên cấp cứu. Vì bệnh nhân ung thư phổi thường có chính khí nội hư, khả năng chống ung thư yếu, tình trạng hư tổn rõ rệt, do đó trong điều trị phải luôn bảo vệ chính khí, bảo vệ khí vị, đưa nguyên tắc bổ chính chống ung thư xuyên suốt quá trình điều trị ung thư phổi. 【Chẩn trị theo chứng trạng】 1. Khí huyết ứ trệ Triệu chứng: Ho không thông, ngực đầy tức, đau ngực cố định, như kim châm, hoặc đàm máu màu thẫm, môi tím, lưỡi tím hoặc có vết ứ, phủ lớp mỏng, mạch tế huyền hoặc tế huyền. Pháp điều trị: Hoạt huyết tán ứ, hành khí hóa trệ. Phương thuốc: Đào hồng tứ vật thang gia vị. Phương này dùng tứ vật thang điều huyết tán ứ, hợp với đào nhân, hồng hoa, đan bì, hương phụ, diêu hồ tố, v.v. thông lạc hoạt huyết, hành khí chỉ thống. Nếu ho ra máu tái phát, máu màu thẫm thì thêm bồ hoàng, ô đoạn, tiên hạc thảo, tam thất, tía can, v.v. khu ứ chỉ huyết; nếu ứ trệ hóa nhiệt, tổn thương khí tân thấy miệng khô, lưỡi khô thì thêm sa sâm, thiên hoa phấn, sinh địa, huyền sâm, tri mẫu, v.v. thanh nhiệt dưỡng âm sinh tân; nếu ăn kém, mệt mỏi, thở ngắn thì thêm hoàng kỳ, đảng sâm, bạch truật, v.v. bổ khí kiện tỳ. 2. Đàm thấp uất phổi Triệu chứng: Ho, khạc đàm, ngực bí, đàm đặc, dính, màu trắng hoặc pha vàng, ngực đầy tức, đau ngực, ăn kém, đại tiện lỏng, mệt mỏi, lưỡi tím, phủ lớp trắng vàng bết hoặc vàng dày bết, mạch huyền hoạt. Pháp điều trị: Hành khí hóa đàm, kiện tỳ trừ thấp. Phương thuốc: Nhị trần thang hợp khoa lâu hạch bạch bán thang. Nhị trần thang lý khí trừ thấp hóa đàm, hợp với khoa lâu hạch bạch bán thang để tăng công dụng hành khí hóa đàm, khoan ngực tán kết. Nếu thấy ngực căng tức, ho nặng thì có thể thêm đình lực đại táo tả phế thang để tả phế hành thủy; nếu đàm tích hóa nhiệt, đàm vàng đặc, khó khạc thì thêm hải ha khắc, ngư tinh thảo, kim kiều mai căn, hoàng cầm, v.v. thanh hóa đàm nhiệt; nếu đau ngực nặng, dấu hiệu ứ rõ rệt thì thêm ngự kim, xuyên khung, diêu hồ tố, v.v. hành ứ chỉ thống; nếu mệt mỏi, ăn kém thì thêm tây đảng sâm, bạch truật, cơ nội kim, v.v. kiện tỳ trợ vận. 3. Âm hư độc nhiệt Triệu chứng: Ho không đàm hoặc đàm ít, hoặc đàm có máu, thậm chí khạc ra máu không ngừng, đau ngực, phiền muộn, ngủ kém, sốt thấp, đổ mồ hôi ban đêm, hoặc sốt cao, kéo dài không hạ, khát nước, đại tiện khô, lưỡi đỏ, phủ lớp vàng mỏng, mạch tế số hoặc số lớn. Pháp điều trị: Dưỡng âm thanh nhiệt, giải độc tán kết. Phương thuốc: Sa sâm mạch đông thang hợp ngũ vị tiêu độc ẩm. Trong phương, dùng sa sâm, ngọc trúc, mạch môn, cam thảo, tang diệp, thiên hoa phấn, sinh thạch đậu dưỡng âm thanh nhiệt; kim anh hoa, dã cúc hoa, bồ công anh, tử hoa địa đinh, tử bối thiên khang thanh nhiệt giải độc tán kết. Nếu thấy khạc ra máu không ngừng, có thể chọn thêm sinh địa, bạch mao căn, tiên hạc thảo, tía căn, tam thất, v.v. lương huyết chỉ huyết; đại tiện khô thì thêm khoa lâu, đào nhân, v.v. nhuận táo thông tiện; sốt thấp, đổ mồ hôi ban đêm thì thêm địa cốt bì, bạch vi, ngũ vị tử, v.v. dưỡng âm thanh nhiệt khử hãn. 4. Khí âm song hư Triệu chứng: Ho đàm ít, hoặc đàm loãng, dính, tiếng ho yếu, thở ngắn, mệt mỏi, mặt trắng, thể hình gầy, sợ gió, ra mồ hôi tự phát hoặc đổ mồ hôi ban đêm, khát nước ít, lưỡi đỏ hoặc nhợt, mạch tế yếu. Pháp điều trị: Dưỡng khí dưỡng âm. Phương thuốc: Sinh mạch ẩm. Phương này dùng đảng sâm bổ phế khí, mạch môn dưỡng âm sinh tân, ngũ vị tử thu liễm bổ phế tân, ba vị kết hợp, đạt công dụng dưỡng khí dưỡng âm sinh tân. Nếu chứng khí hư rõ rệt thì thêm sinh hoàng kỳ, thái tử sâm, bạch truật, v.v. bổ khí kiện phổi kiện tỳ; nếu thiên về âm hư thì thêm bắc sa sâm, thiên đông, huyền sâm, bạch hợp, v.v. dưỡng âm tăng dịch; nếu khạc đàm không thuận, đàm ít mà dính thì thêm bối mẫu, khoa lâu, hạnh nhân, v.v. thanh phế hóa đàm. Nếu phổi thận cùng bị tổn thương, do âm tổn dương, xuất hiện dương khí hư, có thể thêm tiên miêu, tiên linh tỳ, bá ký, thịt tằm, bổ cốt chỉ, v.v. ôn bổ thận dương. Trong các chứng trạng trên, nếu kèm theo hội chứng chèn ép tĩnh mạch cửa trên, xuất hiện sưng phù da mặt, vùng ngực trên tím xanh, giọng nói khàn, đau đầu, chóng mặt, khó thở, thậm chí hôn mê, triệu chứng nghiêm trọng, có thể tử vong trong thời gian ngắn. Đông y điều trị theo chứng huyết ứ, phù thũng, hoạt huyết tán ứ, lợi thủy tiêu thũng có thể giúp một số bệnh nhân thuyên giảm. Phương thuốc thường dùng như Thông khiếu hoạt huyết thang, ngũ linh tán, ngũ bì ẩm, chân võ thang, v.v. Trường hợp chèn ép nhẹ hơn, có thể thêm đình lực tử, châu linh, sinh ma hoàng, ích mẫu thảo, v.v. trong phương thuốc điều trị theo chứng trạng để thanh phế thông tắc, hoạt huyết lợi thủy. Trong quá trình nghiên cứu lâm sàng dài hạn về ung thư phổi, đã sàng lọc ra một số vị thuốc Đông y chống ung thư thường dùng, ví dụ như nhóm thuốc thanh nhiệt giải độc: ngư tinh thảo, long khê, bạch anh, bạch hoa xà thiệt thảo, đại thanh diệp, tảo hưu, sơn đậu căn, bồ công anh, nông cẩm lý, thạch thượng bách, dã cúc hoa, kim kiều mai, thạch kiến xuyên, v.v.; nhóm thuốc hóa đàm tán kết: hạ khổ thảo, sơn từ cầu, thổ bối mẫu, thổ phục linh, hoàng dược tử, khoa lâu, bối mẫu, nam tinh, bán hạ, hạnh nhân, bách bộ, mã đẩu linh, sơn hải lô, bá khi, thủ cung, khô trăn bì, v.v.; nhóm thuốc hoạt huyết chỉ huyết: nhũ hương, mộc hương, đào nhân, địa du, đại hoàng, xuyên sơn giáp, tam lăng, ư trư, trạch lan, thủy hồng hoa tử, uy linh tiên, tử thảo, diêu hồ tố, ngự kim, tô mộc, bạch khuất tài, huyền trường thanh, lộ phong phòng, tam thất, v.v.; nhóm thuốc công đoạn thủy dẫn: đình lực tử, đại kỷ, viên hoa, thương lục, xe tiền tử, châu linh, trạch tả, v.v. Các vị thuốc có tác dụng chống ung thư này, có thể lựa chọn hợp lý dựa trên chứng trạng cụ thể của ung thư phổi, kết hợp với điều kiện lâm sàng. 【Diễn biến và tiên lượng】 Thông thường ban đầu chủ yếu là độc đàm ứ trệ ở phổi, tập trung vào chứng thực, tiên lượng không nặng, cơ thể chính khí còn mạnh, qua điều trị điều chỉnh, tình trạng bệnh có thể cải thiện. Nếu không kiểm soát, tà độc tổn thương chính khí, phế tỳ khí hư, ngăn cản tà không đủ quyền lực, tà độc có thể tiến triển sang ngoài phổi, hoặc lan đến da thịt, hoặc lưu trú vào các tạng phủ, gân cơ, hoặc ở các khớp xương, âm tủy ăn mòn xương, hoặc tà độc xâm nhiễu tinh khiếu, thậm chí mê man tinh khiếu. Tình trạng hư tổn nặng hơn, hao khí tổn huyết, tổn âm tới dương, nếu xuất hiện các chứng suy kiệt như mặt gầy, cơ thể teo, “đại nhục tận thoái”, thường báo hiệu bệnh nhân đã bước vào giai đoạn sống sắp tàn. Đối với một số bệnh nhân ung thư phổi tái phát sau phẫu thuật, có thể xuất hiện từ khí hư tiến đến dương hư, rồi dần chuyển thành tinh huyết hư tổn, lâm sàng có thể biểu hiện chứng khí âm hai hư ở phế, tỳ, thận, thường báo hiệu tình trạng bệnh cực kỳ nghiêm trọng, hiệu quả điều trị rất kém. Ngoài ra, “đàm nhiệt” thường là một mặt trong quá trình biến đổi bệnh lý của ung thư phổi, cơ chế là do đàm ứ hóa nhiệt. Nguyên nhân trực tiếp là do khối u tắc nghẽn phế quản, khiến đàm dịch dẫn lưu không thuận lợi, gây nhiễm trùng thứ phát. Một khi xuất hiện sự chuyển hóa này, trong điều trị lâm sàng phải áp dụng phương pháp cắt đứt, nhằm kiểm soát nhanh chóng hiện tượng nhiệt, ngăn chặn sự tiến triển nghiêm trọng của bệnh. 【Phòng ngừa và điều dưỡng】 Bệnh này mặc dù chưa có biện pháp phòng ngừa chắc chắn, nhưng tăng cường luyện tập, tăng cường khả năng kháng bệnh của cơ thể, tránh các yếu tố gây ung thư tác động lâu dài, có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh. Hiện nay đã công nhận hút thuốc là một yếu tố quan trọng gây ung thư phổi, do đó cần tích cực tuyên truyền về tác hại của hút thuốc, khuyến khích bỏ thuốc lá. Các chất như nhựa than, than đá, crôm có tác dụng gây ung thư phổi, cũng nên tránh hoặc giảm tiếp xúc. Tia phóng xạ điện ly cũng là yếu tố gây ung thư phổi, do đó cần có biện pháp bảo vệ nhất định. Hàng ngày nên để bệnh nhân tâm trạng thoải mái, sinh hoạt điều độ, giữ không khí trong nhà tươi mới, chú ý giữ ấm, phòng tránh tà ngoại xâm nhập phổi gây nhiễm trùng thứ phát. Ăn uống nên hạn chế thực phẩm béo, cay, kích thích, ăn nhiều nấm hương, ý dĩ, hải tảo, v.v.
|