Đái dầm ở trẻ em – Cố bản chỉ đái Chứng đái dầm thực chất chính là hiện tượng "đái ra giường" mà chúng ta thường gọi. Là tình trạng trẻ từ 3 tuổi trở lên, khi ngủ, tiểu tiện tự phát ra, tỉnh dậy mới biết. Thông thường, trẻ sơ sinh bình thường sau 1,5 tuổi nên dần dần tự kiểm soát việc đi tiểu, nhưng trẻ dưới 3 tuổi vẫn không tự kiểm soát được việc đi tiểu vào ban đêm vẫn là hiện tượng sinh lý bình thường. Nếu trẻ từ 3 tuổi trở lên vẫn không tự chủ được việc đi tiểu vào ban đêm, đặc biệt là trẻ trên 5 tuổi thì đó là bệnh lý, vì trẻ từ 3 tuổi trở lên khí huyết kinh mạch dần dần đầy đủ, cơ quan nội tạng dần phát triển trưởng thành, khả năng kiểm soát và biểu đạt việc đi tiểu đã có. Tất nhiên, nếu trẻ học đường do chơi quá sức vào ban ngày, mệt mỏi tinh thần, hoặc uống nhiều nước trước khi ngủ mà có hiện tượng đái dầm một cách tình cờ thì không thuộc phạm vi đái dầm bệnh lý. Một số trẻ mắc chứng đái dầm từ khi sinh ra đã đái ra giường, cũng có trẻ đã duy trì được hơn một năm đi tiểu tự chủ vào ban đêm, nhưng do yếu tố tinh thần hoặc mệt mỏi lại xuất hiện triệu chứng đái dầm, thậm chí kéo dài đến khi trưởng thành mới khỏi, cũng có một số người lớn vẫn còn đái dầm. Nếu chứng đái dầm kéo dài không khỏi sẽ khiến trẻ có cảm giác tự ti về mặt tinh thần và tâm lý, ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và thể chất, làm chậm sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ. Theo khảo sát ở nước ngoài, khoảng 10–15% trẻ em mắc chứng đái dầm; tài liệu trong nước cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở học sinh tiểu học trung bình khoảng 10,77%. Do đó, cha mẹ cần hiểu rõ về chứng đái dầm ở trẻ em, nếu con mình mắc chứng này, nên đến bệnh viện kiểm tra, xem có bị nhiễm trùng niệu đạo, dị tật đốt sống (dạng tiềm tàng hoặc kèm giãn não), tổn thương tủy sống, động kinh hay suy phát triển não bộ hay không. Những trường hợp cần điều trị đặc hiệu phải điều trị sớm. Trong đó, tỷ lệ dị tật đốt sống tiềm tàng ở trẻ đái dầm rất cao, tài liệu cho thấy điều trị Đông y có hiệu quả tốt. Đối với các trường hợp đái dầm chức năng, Đông y chia thành 4 loại: thận khí bất túc, tỳ phế khí hư, can kinh thấp nhiệt, tâm thận bất giao. Trẻ đái dầm do thận khí bất túc, mỗi đêm có thể đái nhiều lần, nước tiểu trong, mùi nhẹ, thường khi trời lạnh, số lần đi tiểu tăng, sắc mặt nhợt nhạt, thiếu ánh sáng, mệt mỏi, tay chân lạnh, sợ lạnh, hoặc chân yếu, trí tuệ kém hơn so với trẻ cùng tuổi, lưỡi nhợt, phủ lớp trắng trơn, v.v. Điều trị cần ôn bổ thận dương, dùng thuốc Đông y như: Ích trí nhân 10g Bổ cốt chỉ 10g Bạch linh 15g Sơn thù nhục 10g Túc tư tử 10g Ngũ vị tử 6g Bạch quả 10g Tang phiêu蛸 15g Thục quế 3g Chế phẩm ăn uống: Hành tây 9g, nghiền nhỏ trộn bột làm bánh, chia 2 lần ăn, mỗi ngày 1 lần, liên tục 6–7 ngày, sau đó tùy theo tình trạng bệnh mà quyết định. Hoặc dùng dạ dày cừu 1 cái, rửa sạch nấu canh, nêm gia vị ăn lúc đói, mỗi ngày 1 lần, liên tục 7–8 ngày. Nếu trẻ đái dầm kèm theo một số chứng của tỳ phế khí hư, như ít nói, mệt mỏi, tinh thần mệt mỏi, mặt vàng, ăn kém, phân không thành khuôn, vận động nhẹ đã ra mồ hôi, lưỡi nhợt, phủ lớp trắng mỏng, thì nên bổ tỳ phế để cố định tiểu tiện, dùng phương thuốc: Đảng sâm 10g Hoàng kỳ 10g Bạch truật 10g Trần bì 10g Ích trí nhân 10g Bạch quả 10g Sắc hồ 10g Sơn dược 10g Ô dược 10g Cơ nội kim 10g Thất thực 10g Đun nước uống. Cũng có thể dùng chế phẩm ăn uống: Gà mái 1 con, gạo nếp (gạo) 100g, hoa vàng 30g, thục địa 50g. Làm sạch gà, bỏ lông và ruột, gói hoàng kỳ, thục địa bằng vải, cùng đặt vào nồi nấu nhừ, bỏ bã thuốc và xương gà, cho gạo nếp nấu thành cháo. Nêm gia vị tùy thích ăn. Hoặc dùng 10 quả đậu đỏ khô, mỗi ngày 1 lần, liên tục 6–7 ngày, hoặc dùng 50g thịt đậu đỏ, 50g gạo nếp, nhét vào bàng quang heo nấu chín ăn, liên tục 5–6 ngày. Triệu chứng loại thấp nhiệt can kinh chủ yếu là: Đái dầm vào ban đêm, lượng ít, nhưng mùi hôi tanh, nước tiểu màu vàng, kèm theo tính tình nóng nảy, dễ cáu gắt, mặt đỏ môi đỏ, khát nước, thích uống nước, lưỡi đỏ, phủ lớp vàng. Điều trị nên thanh can thanh nhiệt, dùng thuốc Đông y như: Long đởm thảo 6g Hoàng cầm 10g Chi tử 6g Trạch tả 10g Mộc thông 3g Xe tiền tử 10g Đương quy 10g Sinh địa 10g Sài hồ 6g Bạch quả 6g Cam thảo 3g v.v. Phương này cần đặc biệt lưu ý không dùng cho người tỳ vị hư yếu, hạ nguyên hư hàn. Chế phẩm ăn uống có thể chọn: Bàng quang heo 1 cái, ích trí nhân 9–15g (hoặc ý dĩ 100g, hoặc gạo nếp 100g, hoặc liên nhục 100g). Cắt mở bàng quang heo, rửa sạch, cho một trong các vị thuốc trên vào, nấu chín rồi ăn. Mỗi ngày 1 lần, liên tục 5–6 ngày. Cách đơn giản hơn là lấy ích trí nhân 9g, sao với giấm, nghiền nhỏ, chia 3 lần, pha nước nóng uống, liên tục 6–7 ngày. Chứng tâm thận bất giao biểu hiện là đái dầm trong giấc mơ, ngủ không yên, bồn chồn, quấy khóc, ban ngày hiếu động, ít yên tĩnh, hoặc bàn tay, bàn chân nóng, thể hình gầy, đầu lưỡi đỏ, có gai, phủ lớp mỏng, nên thanh tâm bổ thận, dùng phương thuốc: Sinh địa 20g Trúc diệp 6g Mộc thông 3g Hoàng liên 1,5g Thục quế 3g Cam thảo 1g Hoàng tinh 1g Ngọc trúc 10g Tang phiêu蛸 10g Ích trí nhân 10g Trẻ đái dầm thường không tự tỉnh dậy vào ban đêm, do đó trong bài thuốc Đông y thường thêm một số vị thuốc thanh tâm tỉnh thần như liên tâm, ma hoàng, sâm dương, viễn chí, v.v. Ngoài điều trị bằng thuốc, còn có thể dùng các phương pháp khác: như châm cứu, chọn huyệt quan nguyên, khí hải, tam âm giao, âm linh tuyền, ấn đường, mỗi lần 2–3 huyệt, có thể phối hợp huyệt túc tam lý. Châm tay chọn huyệt đêm đái (điểm giữa đường ngang hai ngón tay giữa ngón út), giữ kim 15 phút. Châm tai chọn huyệt thận, bàng quang, vỏ não. Hoặc dùng phương pháp bấm huyệt, day huyệt đan điền 200 lần, xoa bụng 20 phút. Cha mẹ nên giúp trẻ hình thành thói quen tốt từ nhỏ, đi tiểu đúng giờ, ban ngày không chơi quá sức, tránh ngủ say vào ban đêm, chiều muộn uống ít nước, bữa tối ăn ít đồ lỏng và canh. Trước khi ngủ, nên nhắc nhở trẻ đi tiểu sạch, và vào thời gian trẻ thường hay đái dầm vào ban đêm, hãy đánh thức trẻ đi tiểu, khi đạt hiệu quả thì giảm dần số lần đánh thức cho đến khi trẻ có thể tự giác đi tiểu mà không cần đánh thức. Trẻ đái dầm thường có áp lực tâm lý lớn, sợ người khác biết mình đái dầm, tự ti mạnh, cha mẹ cần kiên nhẫn giáo dục hướng dẫn trẻ, không nên trách mắng, đánh đập trẻ, giúp trẻ loại bỏ cảm giác xấu hổ, căng thẳng, xây dựng niềm tin điều trị, loại bỏ lo lắng, chú ý sức khỏe tinh thần và thể chất. Với những trẻ có lòng tự trọng cao, cha mẹ nên giữ bí mật cho trẻ.
|