Rối loạn kinh nguyệt ở tuổi dậy thì thường xảy ra ở người chưa kết hôn dưới 25 tuổi, thường biểu hiện là kinh sớm, kinh muộn hoặc kinh thất thường, chẩn trị theo chứng như sau. Thận âm hư Thường gặp kinh sớm, cũng có thể thất thường, thường kèm theo đau lưng, đau đầu, mắt mờ, miệng khô, cổ họng khô, khát nước lạnh, táo bón; lưỡi phủ lớp trắng mỏng hoặc ít lớp, lưỡi đỏ hơn bình thường, mạch tế sác hoặc huyền tế sác. Phương pháp điều trị là bổ âm, kiềm dương, dưỡng thận điều kinh, dùng phương两地 thang, nhị chí hoàn hợp cố kinh hoàn gia giảm: huyền sâm, sinh địa, bạch thược, địa cốt bì, nữ trinh tử, hạn liên thảo, đan bì, hoàng bách, quy bản, vũ lý nhân, hương phụ, sơn dư nhục. Thận dương hư Thường gặp kinh muộn, cũng có thể thất thường, thường kèm theo đau lưng, đau gối, đau đầu, thân thể nặng, đại tiện lỏng hoặc tiêu chảy buổi sáng, khí hư nhiều, màu trắng như nước, ăn uống kém, sợ lạnh, phù nề; lưỡi phủ lớp trắng mỏng, lưỡi nhợt đỏ hoặc có dấu răng, mạch trầm tế. Phương pháp điều trị là ôn bổ thận dương, bổ nguồn lửa, dùng phương hữu quy hoàn, bổ trung ích khí gia giảm: sơn dược, thục địa, chế phụ tử, tiên linh tỳ, bổ cốt chỉ, túc tư tử, ký sinh, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, vân linh, câu kỷ tử, đỗ trọng. Thận âm dương song hư Thường gặp kinh sớm, kèm theo đau lưng, đau gối, mệt mỏi, hồi hộp, thở ngắn, đại tiện không thoải mái hoặc tiêu chảy, hoặc thấy phù nề; lưỡi phủ lớp trắng mỏng, lưỡi phình to hoặc có dấu răng, mạch trầm tế vô lực. Phương pháp điều trị là bổ âm bổ dương, điều hòa kinh mạch, dùng phương bảo âm giản, cố âm giản, thận khí hoàn gia giảm: sinh địa, bạch thược, hoàng bách, tri mẫu, đảng sâm, nhục quế, sơn dược, sơn dư nhục, túc tư tử, thục địa, nữ trinh tử, xuyên đoạn, bổ cốt chỉ. Can thận âm hư Thường gặp kinh sớm, thất thường, kèm theo đau tức ngực, sườn, không muốn ăn, ợ hơi, ợ chua, phiền muộn, nóng về mặt, đau lưng, đau gối, đau đầu, mất ngủ, quên, lưỡi phủ lớp vàng hoặc trắng, lưỡi đỏ, mạch tế. Phương pháp điều trị là bổ thận dưỡng can, dưỡng huyết hòa huyết, dùng phương nhất quán giản, hắc tiêu dao tán gia giảm: sinh địa, câu kỷ tử, mạch môn, bắc sa sâm, đương quy, nữ trinh tử, sài hồ, bạch thược, thục địa, thiên đông, túc tư tử, hoàng tinh, chế thủ ô. Tỳ thận dương hư Thường gặp kinh muộn, thất thường, kèm theo đau đầu, mắt mờ, mệt mỏi, đau lưng, đau gối, tay chân không ấm, hoặc thấy tiểu ít, phù nề, đại tiện lỏng; lưỡi phủ lớp trắng mỏng, lưỡi nhợt to hoặc có dấu răng, mạch trầm tế vô lực hoặc hoạt tế. Phương pháp điều trị là ôn bổ tỳ thận, thông dương hòa huyết, dùng phương hữu quy hoàn, thập toàn đại bổ thang gia giảm: thục địa, sơn dược, túc tư tử, đỗ trọng, sơn dư nhục, nhục quế, chế phụ tử, lộc giác giao, xuyên khung, đảng sâm, hoàng kỳ, vân linh, bạch truật, cam thảo. Đàm ư giao trú Thường gặp kinh muộn, cũng có thể thất thường, kèm theo đầy ngực, đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, bực bội, dễ kích động, nôn ra đàm dãi, táo bón, da mặt xanh xao, hoặc kinh màu tím thẫm có cục, đau tức bụng dưới hoặc đau khi ấn; lưỡi phủ lớp bết mỏng, lưỡi tím tối, hoặc có điểm ứ, mạch trầm hoạt hoặc trầm huyền mà huyền. Phương pháp điều trị là hành ư hóa đàm, lý khí tán kết, dùng phương đào hồng tứ vật thang, nhị trần thang gia giảm: đào nhân, hồng hoa, xuyên khung, đương quy, hương phụ, tri thực, bán hạ, bạch giới tử, trần bì, vân linh, lai phục tử, hoài ngưu tất, dã nhân.
|