Phương pháp điều trị: Ngay sau khi chẩn đoán xác định, nên ngậm dưới lưỡi 10mg nitroglycerin, tiêm hậu nhãn 1205mg torasuline, hoặc tiêm vào động mạch thái dương và động mạch phân biệt mỗi nơi 2ml dung dịch phức hợp xiangliu, đồng thời ấn nhẹ lên mắt, uống acetazolamide 500mg và phối hợp thở oxy. Đồng thời dùng 16ml phức phương đan sâm truyền tĩnh mạch mỗi ngày một lần, mỗi 10 lần là một liệu trình; đồng thời uống viên đan sâm phức phương, vi não lộ thông để hoạt huyết hóa ứ. Quan sát hiệu quả điều trị: 3.1 Tiêu chuẩn hiệu quả Hiệu quả rõ rệt: thị lực ≥1,0; hiệu quả tốt: thị lực tăng ≥3 dòng; cải thiện: thị lực tăng 1–2 dòng; không hiệu quả: thị lực không thay đổi. 3.2 Kết quả điều trị Sau một liệu trình điều trị, theo dõi trong 3 tháng: nhóm này có 21 bệnh nhân, 5 trường hợp hiệu quả rõ rệt, 11 trường hợp hiệu quả tốt, 4 trường hợp cải thiện, 1 trường hợp không hiệu quả, tỷ lệ hiệu quả tổng thể đạt 95,2%. Thứ tự phục hồi tuần hoàn máu ở đáy mắt: trước tiên là phần trên mũi, phần trên thái dương, sau đó là phần dưới mũi, phần dưới thái dương. Bàn luận: Động mạch trung tâm võng mạc và các nhánh của nó thuộc loại động mạch tận cùng, cung cấp máu cho lớp nội võng mạc. Võng mạc cực kỳ nhạy cảm với rối loạn tuần hoàn máu. Trong thí nghiệm trên động vật (thỏ), khi động mạch trung tâm bị tắc hoàn toàn, võng mạc sẽ hoại tử trong vòng 30 phút. Một số báo cáo khác cho thấy thời gian chịu đựng tạm thời thiếu máu võng mạc khoảng 100 phút. Do đó, tình trạng này là một cấp cứu nhãn khoa, việc điều trị cần phải nhanh chóng tích cực cứu chữa, tranh thủ khôi phục tuần hoàn máu trước khi võng mạc hoại tử, mới có thể đạt được hiệu quả điều trị tốt. Nhóm này có 5 trường hợp hiệu quả rõ rệt, nguyên nhân thành công cứu chữa bao gồm: bệnh nhân trẻ tuổi, tắc động mạch trung tâm võng mạc có thể do mệt mỏi quá mức và tăng huyết áp thoáng qua gây co thắt mạch máu, sử dụng kịp thời thuốc giãn mạch và thuốc giải trừ co thắt mạch nhỏ, giúp tuần hoàn máu dần phục hồi; thứ hai liên quan đến việc bệnh nhân đến khám chưa quá muộn và chúng tôi chủ động tranh thủ thời gian điều trị; thứ ba, chúng tôi đã sớm bổ sung thuốc đông y hoạt huyết hóa ứ trong giai đoạn đầu điều trị. Nghiên cứu chứng minh rằng thuốc đông y hoạt huyết hóa ứ có bốn tác dụng trong điều trị các bệnh lý thiếu máu ở mắt: ① giãn mạch, giảm sức cản mạch máu. ② cải thiện tuần hoàn vi mô, nâng cao khả năng chịu thiếu oxy. ③ ức chế tổng hợp fibrin, chống đông máu và tăng sinh mô. ④ ức chế giải phóng chất gây dị ứng, chống phản ứng dị ứng. Chính nhờ những tác dụng này mà thuốc đông y hoạt huyết hóa ứ làm tăng tốc độ tái thông mạch máu bị tắc. Một số trường hợp hiệu quả không tốt có thể liên quan đến tuổi tác lớn, mức độ cứng động mạch cao và đến khám muộn. Về các báo cáo lâm sàng về tắc động mạch trung tâm võng mạc, tuy nhiều nhưng quan sát chi tiết lại ít. Qua quan sát, chúng tôi hiểu được rằng thứ tự phục hồi tuần hoàn máu ở mạch võng mạc là từ trên mũi, trên thái dương, rồi đến dưới mũi, dưới thái dương, tức là từ xa đến gần dần trở lại bình thường. Mặc dù các nhánh trên thái dương và dưới thái dương đã phục hồi tuần hoàn máu bình thường, nhưng vùng hoàng điểm vẫn còn phù nhẹ, nguyên nhân là do nguồn cung cấp máu cho mép ngoài vùng hoàng điểm đến từ các nhánh động mạch võng mạc phía trên và phía dưới, những nhánh này tạo thành vòng mạch hình quạt chưa hoàn toàn phục hồi.
|