Ngôn ngữ: 简体中文 | 繁體中文 | 日本語 | 한국어 | Tiếng Việt | ภาษาไทย | Bahasa Indonesia | Bahasa Melayu | Filipino
|
| Trang Chủ → Phương Thuốc Dân Gian → Danh Phương Thảo Dược | Đánh dấu trang |
Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:
| Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc | ||||
| Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác | ||||
| Phương Thuốc Dân Gian / Chăm sóc sức khỏe / Thực phẩm giải độc / Bài thuốc dân gian thường dùng để phát tán tà khí biểu (phát tán ngoại tà) | Bài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp |
Bài thuốc dân gian thường dùng để phát tán tà khí biểu (phát tán ngoại tà) | |
Các vị thuốc phát tán tà khí biểu là những vị thuốc dùng để giải trừ các tà khí trong tự nhiên, tức là gió, hàn, thử, thấp, táo, hỏa – sáu tà khí. Y học cổ truyền cho rằng: "Khi tà khí ở da, phải phát tán ra ngoài bằng mồ hôi", nghĩa là khi tà khí như phong hàn, phong nhiệt, thử thấp xâm nhập vào bề mặt cơ thể, có thể dùng phương pháp phát hãn để điều trị. Những vị thuốc này gọi chung là "phát tán biểu tà dược". Tác dụng chính là: phát tán tuyên thông, giải trừ tà khí biểu, điều hòa khí huyết.① Cúc tinh: Cúc tinh là toàn cây của cây cúc tinh họ Lamiaceae, chứa khoảng 1,8% tinh dầu, tập trung nhiều nhất ở phần ngọn; cúc tinh có tác dụng hạ sốt nhẹ, nước sắc có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ấm, vị cay, công dụng giải biểu, tán phong, thông phong, dùng cho các chứng như cảm mạo đau đầu, viêm họng, phát ban, phát ban không thông, ghẻ lở... Liều dùng: 3–9 gram.② Ngưu bang tử: Ngưu bang tử là quả của cây ngưu bang họ Asteraceae, chứa inulin, iso-inulin, vitamin B2... rễ ngưu bang chứa nhiều hợp chất phenolic đa dạng, axit hữu cơ và một số hợp chất alkyne. Thí nghiệm dược lý chứng minh: các thành phần hoạt chất trong ngưu bang và ngưu bang đều có tác dụng kháng vi khuẩn gây bệnh và nấm da; trong rễ ngưu bang có chất chống ung thư. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính mát, vị cay, đắng, công dụng tán phong nhiệt, tuyên phế thông phong, lợi hầu tiêu thũng, dùng cho các chứng như ho do phong nhiệt, viêm họng, đàm khó khạc... Ngoài ra còn có hiệu quả với chứng phát ban ngứa, sưng đau do mụn nhọt. Liều dùng: 3–9 gram, nhưng người có tỳ vị hư hàn, thường xuyên tiêu chảy thì không nên dùng.③ Bạch chỉ: Bạch chỉ là rễ của các loài cây bạch chỉ thuộc họ Umbelliferae như bạch chỉ Hưng An, bạch chỉ Hàng Châu hay bạch chỉ kháng. Thí nghiệm lâm sàng chứng minh: dùng 60 gram bạch chỉ, 0,5 gram bạch chỉ nghiền thành bột, cho một lượng nhỏ vào trước mũi bệnh nhân, bảo bệnh nhân thở đều, có thể đạt hiệu quả rõ rệt trong 1–10 phút đối với chứng đau răng, đau thần kinh tam giác, đau đầu... Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ấm, vị cay, công dụng khu phong giải biểu, trừ thấp, tiêu thũng, giảm đau, dùng cho các chứng như cảm phong hàn, đau đầu do phong thấp, đau đầu bên, đau xương mày, đau răng, viêm xoang, đau bụng do hàn thấp, khí hư đỏ trắng, ngứa da... Liều dùng: 3–9 gram, nhưng người âm hư hỏa vượng, huyết hư nhiệt thì kiêng dùng.④ Phòng phong: Phòng phong là rễ của cây phòng phong họ Umbelliferae, chứa tinh dầu, alkaloid đắng, thành phần phenolic, axit hữu cơ, mannitol... nước sắc hoặc nước ngâm phòng phong đều có tác dụng hạ sốt, ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, một số nấm da và virus. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ấm, vị cay, ngọt, công dụng khu phong giải biểu, thắng thấp giảm đau, dùng cho các chứng như cảm phong hàn, đau đầu, chóng mặt, cứng cổ, phong thấp bại chứng, đau khớp, co rút tứ chi, phá thương phong... Liều dùng: 6–9 gram.⑤ Hương nhu: Hương nhu là toàn cây của cây hương nhu hải châu hoặc hương nhu hẹp họ Lamiaceae, chứa tinh dầu, chất phenolic, glycoside flavonoid và sterol thực vật; tinh dầu trong hương nhu có tác dụng phát hãn hạ sốt, kích thích tiết dịch tiêu hóa và nhu động ruột, đồng thời có tác dụng lợi tiểu. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính hơi ấm, vị cay, công dụng phát hãn giải thử, hành thủy tán trướng, ôn vị điều trung, dùng cho các chứng như sốt rét do phong hàn mùa hè, sợ lạnh, đau đầu, không ra mồ hôi; chứng say nóng do nhiệt, ngực đầy bụng đau, buồn nôn, tiêu chảy; phù thũng, tiểu ít, chân tay phù... Liều dùng: 3–6 gram.⑥ Quế chi: Quế chi là cành non của cây quế họ Lauraceae, chứa tinh dầu, chất tanin, nhựa... có thể giãn mạch, thúc đẩy tuần hoàn máu, có tác dụng an thần; đối với dạ dày – ruột có tác dụng kích thích nhẹ, thúc đẩy tiết dịch tiêu hóa, tăng cường chức năng tiêu hóa, giảm co thắt đường ruột, giải phóng khí tích tụ trong đường tiêu hóa. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ẩm, vị cay, ngọt, công dụng phát hãn giải cơ, ôn kinh thông mạch, dùng cho các chứng như cảm phong hàn, đau cơ khớp, kinh nguyệt không đều, đau bụng... Liều dùng: 3–9 gram.⑦ Tang diệp: Tang diệp là lá của cây dâu tằm họ Moraceae, chứa deoxycorticosterone, acid thực vật... thí nghiệm dược lý chứng minh: nước sắc tang diệp có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, tác động lên vi khuẩn xoắn leptospira, hạ đường huyết và ức chế co cơ ruột. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính hàn, vị đắng, ngọt, công dụng khu phong thanh nhiệt, thanh can minh mục, dùng cho các chứng như cảm phong nhiệt, ho, đau họng, đau đầu, chóng mặt, khát nước, mắt đỏ, phong bại, phát ban, phù chi dưới... Liều dùng: 5–9 gram.⑧ Bạc hà: Bạc hà là toàn cây hoặc lá của cây bạc hà hoặc bạc hà nhà họ Lamiaceae, chứa tinh dầu, trong đó có menthol, menthone, limonene, citral... nước sắc có tác dụng ức chế vi khuẩn lao, vi khuẩn thương hàn ở người; tinh dầu liều nhỏ uống có tác dụng phát hãn hạ sốt và kích thích hệ thần kinh trung ương. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính mát, vị cay, công dụng tán phong nhiệt, thanh lợi đầu mục, thông phong, dùng cho các chứng như cảm phong nhiệt, đau đầu, mắt đỏ, viêm họng, loét miệng, đau răng, phát ban, sởi, phát ban ban đầu... Liều dùng: 1,5–6 gram.⑨ Cúc hoa: Cúc hoa là hoa dạng đầu của cây cúc họ Asteraceae, chứa tinh dầu, chrysanthemum glycoside, flavonoid, adenine, betaine, vitamin vi lượng... thí nghiệm dược lý chứng minh: cúc hoa chứa nhiều thành phần hoạt tính ảnh hưởng đến tim, do đó có tác dụng giãn mạch vành, tăng lưu lượng máu vành, giảm tình trạng thiếu máu cơ tim, đồng thời có tác dụng an thần và hạ huyết áp; nước sắc có tác dụng ức chế một số vi khuẩn gây bệnh, virus cúm và vi khuẩn xoắn leptospira; đồng thời ức chế một số nấm gây bệnh da. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính hơi đắng, vị cay, ngọt, đắng, công dụng khu phong thanh nhiệt, bình can minh mục, dùng cho các chứng như cảm phong nhiệt, đau đầu, chóng mặt, mắt đỏ sưng đau, độc nhọt...⑩ Ma hoàng: Ma hoàng là thân thảo của các loài cây ma hoàng họ Ephedraceae như ma hoàng cỏ, ma hoàng gỗ, ma hoàng trung, chứa alkaloid, bao gồm ephedrine, pseudoephedrine, methyl-ephedrine... trong đó ephedrine có hàm lượng cao nhất; ngoài ra còn chứa ephedrinone và tinh dầu... ephedrine có tác dụng tương tự hormone adrenalin, có thể giãn cơ trơn phế quản, co mạch, tăng huyết áp và kích thích tim; pseudoephedrine có tác dụng giảm co thắt cơ trơn phế quản – đây là cơ sở y học cho công dụng chống ho, giảm hen của ma hoàng; tinh dầu trong ma hoàng có tác dụng hạ sốt và giảm nhiệt độ cơ thể, đồng thời kích thích tuyến mồ hôi tiết mồ hôi; nước sắc ma hoàng có thể ức chế nhiều loại vi khuẩn gây bệnh và nhiều chủng virus cúm. Do đó, ma hoàng và các đơn thuốc có ma hoàng chủ yếu có hiệu quả rõ rệt trong điều trị cảm lạnh sợ lạnh, hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, viêm phổi ở trẻ em, ho gà, viêm khớp dạng thấp, viêm da do dị ứng, phát ban... Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ấm, vị cay, hơi đắng, công dụng phát hãn, giải biểu, tuyên phế, bình suyễn, lợi thủy, dùng cho các chứng như cảm phong hàn, sợ lạnh, sốt, đau đầu, nghẹt mũi, đau xương khớp, không ra mồ hôi, ho, thở khò khè, phù thũng do phong thủy, tiểu ít, ngứa do phát ban... Liều dùng: 6–9 gram; nhưng người phổi hư hao, ho do cảm phong nhiệt, các chứng như ung thư, nhọt... thì không dùng ma hoàng.⑩ Tử tô: Tử tô là lá, thân của cây tử tô họ Lamiaceae, chứa tinh dầu, acid croton, scutellarin... nước sắc có tác dụng giãn mạch máu, kích thích tuyến mồ hôi tiết mồ hôi, do đó có thể phát hãn hạ sốt; đồng thời ức chế vi khuẩn tụ cầu, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn đại tràng... Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính ấm, vị cay, công dụng phát biểu tán hàn, hành khí khoan trung, dùng cho các chứng như cảm phong hàn, khó thở, bụng đầy, buồn nôn, nôn mửa... Liều dùng: 6–9 gram.⑩ Cát căn: Cát căn là củ của cây cát căn họ Leguminosae, chứa hợp chất flavonoid, bao gồm puerarin, puerarin xyloside, daidzein, daidzein glycoside, β-sitosterol, axit arachidonic và lượng lớn tinh bột; nước sắc hoặc tổng hợp flavonoid cát căn có tác dụng giãn mạch, tăng lưu lượng máu não và mạch vành; puerarin có tác dụng ức chế tập đoàn tiểu cầu, có thể phòng ngừa đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim; ngoài ra, nước sắc cát căn còn có tác dụng hạ đường huyết và hạ sốt. Trong y học cổ truyền, cho rằng vị thuốc này tính mát, vị ngọt, cay, công dụng phát biểu giải cơ, thông phong, chỉ tả, trừ phiền, giải khát, dùng cho các chứng như cảm thương, cảm nhiệt đau đầu, sốt nóng, khát nước, tiêu chảy, lỵ, phát ban không thông, tăng huyết áp, đau thắt ngực, điếc tai... Liều dùng: 9–12 gram. | |
Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi
Email: [email protected]