Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Chăm sóc sức khỏe / Chữa chứng âm hư, bổ âm dưỡng dương / Các vị thuốc Đông y thường dùng có tác dụng bổ âmBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Các vị thuốc Đông y thường dùng có tác dụng bổ âm

Dược liệu bổ âm
Thuật ngữ "dược liệu bổ âm" chỉ các vị thuốc có khả năng bổ sung dịch âm trong cơ thể, có tác dụng sinh tân, dưỡng dịch, nhuận táo để điều trị chứng âm hư. Chứng âm hư bao gồm âm hư thận, âm hư phế, âm hư can, âm hư vị, v.v.
① Mạch môn đông
Thuốc Mạch môn đông là củ nhỏ trên rễ của cây Dạ hương thảo hay Dạ hương thảo lớn thuộc họ Liliaceae; chứa nhiều saponin steroid, glucose, chất nhầy, chất giống vitamin A, β-sitosterol, v.v.; có thể tăng số lượng tế bào máu, kéo dài thời gian tồn tại của kháng thể, nâng cao chức năng miễn dịch và tỷ lệ tổng hợp axit nucleic, thúc đẩy sản sinh kháng thể, complement, interferon, lysozyme, v.v.; tăng khả năng chịu thiếu oxy của cơ thể; có tác dụng kích thích tim, làm tăng biên độ co bóp tim; hạ đường huyết và thúc đẩy phục hồi tế bào tụy.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính hơi hàn, vị ngọt, công năng dưỡng phế âm, thanh tâm trừ phiền, dưỡng vị sinh tân, dùng cho các chứng như ho do phế âm bất túc, nội nhiệt gây đờm đặc khó khạc, hoặc ho khan, đờm lẫn máu, phiền lòng mất ngủ, miệng khô khát, đại tiện khô cứng, v.v.
Lượng dùng: 10–15 gram, nhưng người có tỳ vị hư hàn, đàm thấp nội trệ thì kiêng dùng, vì vị thuốc này dễ sinh đàm thấp.
② Thiên môn đông
Thiên môn đông là củ của cây Thiên môn đông (Asparagus cochinchinensis) thuộc họ Liliaceae; chứa asparagin, β-sitosterol, saponin steroid, dẫn xuất furfural, chất nhầy, v.v.; nghiên cứu đã chứng minh Thiên môn đông có tác dụng tăng số lượng tế bào máu và kéo dài thời gian tồn tại của kháng thể; có tác dụng long đàm, giảm ho.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính đại hàn, vị ngọt, đắng, công năng dưỡng âm thanh nhiệt, nhuận phế chỉ khái, dùng cho các chứng như phế âm bất túc, ho khan ít đờm, ho lao khạc huyết, nhiệt bệnh tổn thương âm, hoặc âm hư nội nhiệt, khát nước, lưỡi khô, tiểu khát, đại tiện khô cứng, v.v.
Lượng dùng: 6–15 gram; nếu rửa sạch Thiên môn đông bằng nước, ngâm rồi bỏ vỏ và tâm, nghiền nát lấy nước, sắc bằng nồi đất với lửa nhỏ, đun đến khi còn một phần ba, thêm mật ong, đun tiếp đến thành thạch, đựng vào chai, sau 7 ngày dùng, mỗi ngày sáng tối bụng đói uống 1 muỗng canh thạch hòa với nước lọc, dùng lâu dài có thể nhuận ngũ tạng, bồi bổ cơ thể.
③ Ngọc trúc
Ngọc trúc là rễ thân của cây Ngọc trúc (Polygonatum odoratum) thuộc họ Liliaceae; chứa digitoxin, digitoxin đắng, đường, chất nhầy, chất tương tự vitamin A; có thể cải thiện điện thế tim bất thường do thiếu máu cơ tim, làm tăng nhịp tim, nhưng liều lượng lớn lại có tác dụng ức chế tim.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, công năng dưỡng âm nhuận phế, ích vị sinh tân, dùng cho các chứng như phế âm bất túc, ho do nhiệt khô, ho khan ít đờm; vị âm bất túc, lưỡi khô miệng khát; cũng dùng cho chứng ăn nhiều nhưng vẫn đói do tiểu đường, tim đập mạnh, tức ngực, v.v.
Lượng dùng: 10–15 gram, nhưng người có đầy bụng, không muốn uống nước, đàm nhiều, lưỡi dày dính thì kiêng dùng.
④ Thạch hộc
Thạch hộc là thân của cây Thạch hộc (Dendrobium nobile) và các loài cùng chi thuộc họ Orchidaceae, một loại cỏ sống quanh năm, thường xanh; chứa nhiều chất nhầy, alkaloid Thạch hộc, v.v.; có thể thúc đẩy tiết dịch vị, hỗ trợ tiêu hóa, đồng thời có tác dụng giải nhiệt, giảm đau.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính hơi hàn, vị ngọt, nhạt, công năng ích vị sinh tân, dưỡng âm thanh nhiệt, dùng cho các chứng như đau mỏi lưng gối, nhiệt hư không hạ, miệng khô khát, nam giới tinh ít, v.v.
Lượng dùng: 6—15 gram, không nên phối hợp với Nghiêm thủy thạch, Ba đậu, Lê hoàn, Tương tàn.
⑤ Nữ trinh tử
Nữ trinh tử là quả chín của cây Nữ trinh (Ligustrum lucidum) thuộc họ Oleaceae, chứa glucose, oleanolic acid, mannitol, palmitic acid, axit béo, malic acid, v.v.; thí nghiệm chứng minh nữ trinh tử có thể thúc đẩy chuyển hóa tế bào lympho ở người khỏe mạnh, tăng số lượng bạch cầu, kéo dài thời gian tồn tại của kháng thể, từ đó nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, đắng, công năng bổ thận dưỡng âm, dưỡng can minh mục, dùng cho các chứng như đầu chóng mặt, tai ù do can thận âm hư, đau mỏi lưng gối, tóc bạc sớm, mắt mờ, thị lực suy giảm, v.v.
Lượng dùng: 1–15 gram; nếu có tỳ vị hư hàn, tiêu chảy phân lỏng thì không nên dùng.
⑥ Hạn liên thảo
Hạn liên thảo là toàn cây của cây Kim linh thảo (Eclipta prostrata) thuộc họ Asteraceae, một loại cỏ một năm; chứa saponin, dầu bay hơi, tanin, vitamin A, chất hạn liên thảo.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính mát, vị ngọt, chua, công năng dưỡng âm bổ thận, lương huyết chỉ huyết, dùng cho các chứng như đầu chóng mặt do can thận âm hư, tóc bạc sớm, nôn ra máu, tiểu ra máu, chảy máu cam, đi ngoài ra máu, bệnh lỵ ra máu, khí hư, viêm niệu đạo, v.v.
Lượng dùng: 1–15 gram; người đại tiện lỏng thì kiêng dùng.
⑦ Sơn dư nhục
Sơn dư nhục là quả của cây Sơn thù (Cornus officinalis) thuộc họ Cornaceae; chứa vitamin A, saponin sơn thù, saponin, tanin, ursolic acid, gallic acid, malic acid, tartaric acid, có tác dụng lợi tiểu, hạ huyết áp; đối với sự giảm số lượng tế bào do hóa trị, có tác dụng tăng cường; nếu phối hợp với các vị thuốc bổ âm thận như Câu kỷ tử, Sinh địa, có thể chế biến thành món ăn bổ thận dương, có hiệu quả tốt trong điều trị tăng huyết áp, suy nhược thần kinh, suy giảm chức năng sinh dục.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, chua, công năng dưỡng can thận, thu âm chỉ hãn, cứu thoát, là vị thuốc chính để bổ âm thận, chủ yếu dùng cho chứng âm hư can thận, dùng cho các chứng như đau mỏi lưng gối, chóng mặt ù tai, liệt dương, tiểu nhiều, ra mồ hôi vô pháp kiểm soát, v.v.
Lượng dùng: 3–9 gram; người có hỏa thịnh, hoặc thấp nhiệt dễ tiểu bí, tiểu đau thì kiêng dùng.
⑨ Đông trùng hạ thảo
Đông trùng hạ thảo là phần thân và xác con sâu của nấm Ophiocordyceps sinensis thuộc họ Clavicipitaceae ký sinh trên sâu của họ Hepialidae; loại tốt nhất là loại vàng óng, to mập. Bên trong chứa protein, chất béo, carbohydrate, vitamin B12, acid cordycepin, cordycepin, v.v.; có thể giãn mạch phổi, có tác dụng an thần, ngủ gật, đối với vi khuẩn lao, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, v.v. đều có tác dụng ức chế.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính ôn, vị ngọt, công năng bổ phế, bổ thận, cố tinh, ích khí,止咳 hóa đàm, dùng cho các chứng như đàm đọng thở khò khè, ho ra máu, tự hãn, trộm hãn, liệt dương di tinh, đau mỏi lưng gối, các chứng suy yếu sau bệnh, v.v. Vị thuốc này được gọi là “thuốc bổ hư chính”, là phẩm quý để bổ phế, ích thận.
Nếu nấu ăn: thường phối hợp với gà, vịt, thịt nạc heo, v.v. để nấu, có thể bổ khí cho người thể trạng suy nhược; nếu sắc uống, mỗi lần dùng 6–9 gram.
⑨ Sa sâm
Thảo sa sâm có hai loại: Bắc sa sâm và Nam sa sâm; Bắc sa sâm là rễ của cây Sanh tài (Cirrhia japonica) thuộc họ Umbelliferae; Nam sa sâm là rễ của các loài sa sâm thuộc chi Adenophora (Adenophora tetraphylla, Adenophora stricta, Adenophora latifolia) thuộc họ Campanulaceae; bên trong chứa dầu bay hơi, acid triterpenoid, sitosterol, β-sitosterol, alkaloid và tinh bột; có tác dụng long đàm, an thần; ngoài ra còn có tác dụng tăng tỷ lệ chuyển hóa tế bào lympho, tăng bạch cầu, kéo dài thời gian tồn tại của kháng thể, v.v., do đó có thể nâng cao và thúc đẩy chức năng miễn dịch.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính hơi hàn, vị ngọt, công năng nhuận phế chỉ khái, dưỡng vị sinh tân, dùng cho các chứng như ho do phế nhiệt âm hư, ho khan ít đờm, ho dai dẳng giọng khàn, ho lao khạc huyết, tổn thương âm vị, miệng khô khát, v.v. Theo thông lệ, Bắc sa sâm có tác dụng dưỡng âm mạnh hơn, còn Nam sa sâm thì thanh phế, long đàm tốt hơn.
Lượng dùng: 10–15 gram; không nên phối hợp với cây Liêu lô.
⑩ Hoàng tinh
Hoàng tinh là rễ của các cây Hoàng tinh (Polygonatum sibiricum), Hoàng tinh dây (Polygonatum filiforme), Hoàng tinh Kim (Polygonatum kingianum) thuộc họ Liliaceae; chứa nicotinic acid, quinone, đường, chất nhầy, tinh bột, alkaloid, glycoside tim, v.v.; thí nghiệm chứng minh Hoàng tinh có tác dụng tăng hoạt động tế bào lympho T ở người; Hoàng tinh còn có tác dụng hạ đường huyết, hạ cholesterol, có tác dụng phòng ngừa các bệnh thường gặp ở người già như bệnh tim mạch, tiểu đường, do đó có tác dụng kéo dài tuổi thọ; ví dụ như phương thuốc “Tì diệp thanh nhậm tán” mà danh y Hoa Đà đời Đông Hán truyền lại cho đồ đệ Phàn Á, trong đó “thanh nhậm” chính là Hoàng tinh; Phàn Á kiên trì dùng phương này, sống hơn 100 tuổi. Trong sách “Bách vật chí” của Trương Hoa đời Tấn viết: “Cỏ Mặt trời tên là Hoàng tiêu, ăn vào có thể trường thọ.”
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, công năng dưỡng phế, bổ thận, dưỡng vị, dùng cho các chứng như ho do phế hư khô, thận hư đau lưng, đầu choáng váng, chân mềm, tỳ khí bất túc, mệt mỏi ăn kém, âm hư vị tỳ, miệng khô ăn ít, tiểu đường, v.v.
Nếu hấp: Hoàng tinh hấp cùng thịt gà, khi gà chín thì ăn. Nếu nấu: Hoàng tinh nấu cùng thịt heo, có thể thêm mật ong hoặc đường phèn để ăn. Nếu sắc: mỗi lần dùng 9–15 gram, dạng tươi dùng 30–60 gram.
⑩ Linh chi
Linh chi là phần cơ thể của nấm Linh chi đỏ (Ganoderma lucidum) hoặc Linh chi tím (Ganoderma sinense) thuộc họ Polyporaceae; bên trong chứa đường, axit hữu cơ, mannitol, ergosterol, nhựa, protein; theo nghiên cứu y học, Linh chi có tác dụng bảo vệ gan, hạ đường huyết, điều chỉnh chức năng thần kinh thực vật, giảm cholesterol, tăng số lượng tế bào máu, tăng sức khỏe, nâng cao khả năng chống bệnh của cơ thể, thường dùng để điều trị các chứng như viêm gan, tiểu đường, tăng cholesterol, giảm tế bào máu, mệt mỏi, v.v.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, công năng bổ tỳ phế, dưỡng can thận, an thần, tăng cường thể chất, dùng cho các chứng như suy nhược cơ thể, ho, tim đập mạnh, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa, đau mỏi lưng gối, ù tai, chóng mặt, v.v.
Nếu ngâm rượu: cắt Linh chi thành miếng, ngâm trong rượu gạo, ngâm 20 ngày sau uống, mỗi lần 1 chén nhỏ, ngày 2 lần. Nếu sắc uống: mỗi lần dùng 3—15 gram. Nếu nuốt: sấy khô Linh chi, nghiền thành bột mịn, mỗi lần dùng 2–6 gram.
⑩ Bạch tử nhân
Bạch tử nhân là hạt của cây Bách (Platycladus orientalis) thuộc họ Cupressaceae; bên trong chứa dầu béo, saponin, dầu bay hơi, v.v.
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, vị thuốc này tính bình, vị ngọt, công năng dưỡng tâm an thần, nhuận tràng thông tiện, dùng cho các chứng như kinh hoàng, mất ngủ, di tinh, trộm hãn, táo bón, v.v.
Lượng dùng: 3–9 gram; nếu có nhiều đàm, đại tiện lỏng thì không dùng.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]