Những vị thuốc nào có khả năng bổ dương khí cho cơ thể, trừ hàn, cường dương, điều trị chứng dương hư, gọi là thuốc bổ dương. ① Lộc nhung Lộc nhung là sừng non chưa xương hóa, có lông của hươu mèo đực hoặc hươu ngựa đực, chứa một lượng rất nhỏ nội tiết tố noãn, estrone, chất xương, chất keo, protein, canxi, phốt pho, magie, có tác dụng kích thích tính dục, thể hiện qua việc nâng cao khả năng làm việc của cơ thể, cải thiện giấc ngủ và khẩu vị, giảm mệt mỏi cơ bắp; liều trung bình có tác dụng tăng cường tim. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính ấm, vị ngọt, mặn, công dụng mạnh dương, bổ khí huyết, ích tinh thần, cường gân cốt, dùng cho các chứng dương hư như liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối lạnh, băng huyết hư hàn, chóng mặt ù tai do tinh huyết hư. Nếu dùng dạng tán, nghiền lộc nhung thành bột, mỗi lần uống 1–9 gram. Nếu dùng dạng hầm, lộc nhung 2–5 gram, cho vào ly, thêm nước, hấp cách thủy, dùng; hoặc hầm cùng thịt gà, thời gian hầm khoảng 2–3 giờ. Những người âm hư hỏa vượng, ho khan đờm vàng, khát nước, ngực đầy tức do phế nhiệt thì kiêng dùng. ② Thận hải cẩu Thận hải cẩu là bộ phận sinh dục đực của hải cẩu, bên trong chứa hormone nam giới, protein, chất béo, có tác dụng kích thích chức năng sinh dục. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính nóng, vị mặn, có tác dụng bổ thận cường dương, ích tinh bổ tuỷ, dùng cho các chứng tổn thương do hư lao, tinh tuỷ suy giảm gây liệt dương, di tinh, tinh lạnh, đau nhức hoặc mỏi ở lưng, gối. Thận hải cẩu cần được nướng cháy trước khi dùng; phương pháp nướng là ngâm thận hải cẩu trong rượu một ngày, lấy ra gói bằng giấy, nướng nhẹ cho thơm, nghiền thành bột; hoặc đun chín trong rượu rồi nướng giòn để ăn. ③ Tử Hà Trần Tử Hà Trần là bánh nhau người khỏe mạnh đã khô, loại tốt nhất là hoàn chỉnh, màu vàng, sạch sẽ, không dính máu; bên trong chứa protein, đường, canxi, vitamin, yếu tố miễn dịch, estrogen, progesterone, hormon steroid, ACTH; có thể thúc đẩy sự phát triển của tuyến vú và cơ quan sinh dục nữ, tăng cường sức đề kháng, miễn dịch và chống dị ứng. Theo "Phục thọ tinh phương": “Một phụ nữ ngoài 60 tuổi, suy nhược dần, dùng vị này kết hợp với thuốc bổ huyết làm viên uống, liền hiệu quả. Từ đó tự chế dùng thường xuyên, sống đến 90 tuổi, khỏe mạnh như người trẻ.” Nghiên cứu của Liên Xô về “phương pháp sống đến 200 tuổi” sử dụng huyết thanh nhau thai người, cũng tương tự với tác dụng chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ của Tử Hà Trần ở Trung Quốc. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính hơi ấm, vị ngọt, mặn, công dụng bổ khí, dưỡng huyết, ích tinh, dùng cho các chứng thể chất yếu, bệnh lâu ngày hư hàn, thở khò khè, ra mồ hôi đêm. Nếu hầm ăn, dùng nhau thai tươi 1 cái, loại bỏ mạch máu, rửa sạch, hầm chín rồi ăn. Nếu tán bột, rửa sạch nhau thai, sấy khô, nghiền thành bột mịn, mỗi lần 3–9 gram, dùng nước ấm uống. Nếu nấu thành cao: rửa sạch nhau thai, cắt nhỏ, thêm nước nấu thành cao, bảo quản, mỗi lần dùng 2 muỗng canh, hòa với nước nóng uống. ④ Cửu hương trùng Cửu hương trùng là phần toàn thân khô của côn trùng Cửu hương trùng họ Bọ cánh cứng, bên trong chứa chất béo, protein và chitin, trong thí nghiệm ngoài cơ thể có tác dụng ức chế vi khuẩn vàng da, trực khuẩn tả. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính ấm, vị mặn, công dụng bổ thận cường dương, thư giải gan, kiện tỳ ích vị, dùng cho các chứng khí trệ đau bụng, thận hư liệt dương, đau lưng mỏi gối. Cửu hương trùng nên nướng chín rồi nhai ăn; nếu sắc nước, mỗi thang 3–9 gram. ⑤ Bổ cốt chỉ Bổ cốt chỉ là hạt của cây Bổ cốt chỉ thuộc họ Đậu, bên trong chứa tinh dầu dễ bay hơi, nhựa, dẫn xuất coumarin, hợp chất flavonoid, nấu chung với gạo, thịt cừu, nêm gia vị rồi ăn. ⑨ Ba kích thiên Ba kích thiên là rễ của cây Ba kích thiên thuộc họ Cẩm quỳ, chứa vitamin C, đường, nhựa... có tác dụng giống corticoid và hạ huyết áp. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính hơi ấm, vị cay, công dụng bổ thận ích tinh, dưỡng can minh mục, an thai, dùng cho các chứng mắt mờ, ù tai, liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối, đi tiểu nhiều, đái dầm, tiền sản giật, thai động không yên. Nếu ngâm trà, dùng tử tư tử 10 gram, sắc lấy nước, thêm đường phèn, uống như trà. Nếu sắc nước, mỗi lần dùng 9–15 gram, uống vào. Nếu ngâm rượu, dùng tử tư tử 30 gram, rượu trắng 500 gram, ngâm 7 ngày rồi uống, mỗi lần 20–30 ml, ngày 2–3 lần, có thể tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. ⑩ Sa viện tử Sa viện tử là hạt chín của cây Hoàng kỳ thân dẹt thuộc họ Đậu, bên trong chứa dầu béo, tanin, chất tương tự vitamin A... có tác dụng co thắt tử cung và chống lợi niệu. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính ấm, vị... công dụng bổ thận cố tinh, dưỡng can minh mục, dùng cho các chứng di tinh, xuất tinh sớm, băng huyết, mắt mờ, đau đầu, lưng gối mỏi, tiểu tiện khó khăn, đái dầm. Nếu ngâm trà, mỗi lần 10 gram, rửa sạch, nghiền nhỏ, ngâm nước sôi uống thay trà, ngày 1–2 lần, có thể tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Nếu sắc nước, mỗi thang 6–9 gram, có thể dùng đến 30 gram. Xương củ bổ Là rễ thân của cây Hộc tuyết và Hộc tuyết Trung Hoa thuộc họ Thạch xương, bên trong chứa glucose, tinh bột, hesperidin... trong ống nghiệm có thể ức chế vi khuẩn tụ cầu vàng, dịch sắc của nó khi dùng cùng streptomycin sulfate có thể làm giảm rõ rệt phản ứng độc tính của streptomycin sulfate. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính ấm, vị đắng, công dụng bổ thận, nối xương, hoạt huyết, sinh phát, dùng cho các chứng chấn thương do té ngã, thận hư, răng lung lay, ù tai, chữa ngoại khoa tóc bạc. Nếu ngâm rượu, dùng xương củ bổ 60 gram, rượu trắng 500 gram, ngâm 7 ngày rồi uống, mỗi lần 1 chén nhỏ, ngày 2 lần; bôi ngoài da chữa tóc bạc. Nếu sắc nước, mỗi thang 9–15 gram; hoặc nghiền thành bột, cho vào trong thận lợn, hầm nóng rồi ăn. ⑩ Cẩu kỷ Cẩu kỷ là rễ thân của cây Cẩu kỷ thuộc họ Móng bò, bên trong chứa tinh bột, acid mật, tanin, lông cẩu kỷ có tác dụng cầm máu đối với chảy máu do chấn thương. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính ấm, vị đắng, ngọt, công dụng bổ can thận, cường gân cốt, trừ phong thấp, dùng cho các chứng đau lưng, đau cột sống, chân tay yếu, đau nhức cơ khớp. Nếu sắc nước, mỗi thang 6–12 gram, nhưng người âm hư có nhiệt hoặc chứng nội nhiệt, tiểu không thông hoặc đau khi tiểu thì kiêng dùng. ⑩ Hồ lô ba Hồ lô ba là hạt chín của cây Hồ lô ba thuộc họ Đậu, một năm sinh, bên trong chứa alcaloid hồ lô ba, choline, saponin, axit béo, protein, chất nhầy, vitamin B. Trong y học cổ truyền Trung Hoa, cho rằng vị này tính rất ấm, vị đắng, công dụng ôn thận dương, trừ hàn thấp, dùng cho các chứng mệnh môn hỏa suy như hàn sán, đau testicle lệch, lan tỏa xuống bụng, thấp hàn chân tay, đau nhức, yếu đuối ở gối, chân. Khi dùng hồ lô ba, nếu dùng tươi, phải rửa sạch, ngâm rượu một đêm, phơi khô, hấp nóng hoặc rang qua rồi dùng, liều lượng từ 1–15 gram.
|