Co thắt ruột còn gọi là đau bụng do co thắt, là loại đau bụng chức năng phổ biến nhất ở trẻ em cấp tính. Đặc điểm chính là: đau bụng xuất hiện đột ngột, nhưng trong thời gian nghỉ giữa các cơn đau, lại rất khó phát hiện dấu hiệu bất thường. Các nguyên nhân gây co thắt ruột có thể là do ăn uống không đúng (như ăn nhiều đồ lạnh, ăn quá no, bú quá nhiều, hoặc thực phẩm chứa đường quá cao dẫn đến tích khí trong ruột...); cũng có thể do thay đổi thời tiết (như cảm lạnh, nhiễm lạnh...); hoặc do độc tố ký sinh trùng ruột gây kích thích. Các yếu tố khởi phát trên có thể gây tạm thời thiếu máu ở thành ruột, hoặc kích thích thần kinh phó giao cảm, khiến cơ trơn đường ruột co thắt, từ đó gây đau bụng. Khi cơ trơn đường ruột co thắt, có thể ngăn cản nội dung ruột đi qua, dẫn đến buồn nôn. Sau một thời gian co thắt kéo dài, cơ trơn sẽ dần giãn ra tự nhiên, lúc đó cơn đau bụng của trẻ sẽ biến mất, tạo thành gọi là "giai đoạn nghỉ giữa các cơn". Nếu nguyên nhân gây bệnh chưa được loại bỏ, trẻ có thể lại xuất hiện đau bụng. Triệu chứng lâm sàng của co thắt ruột ở trẻ em gồm: Trẻ bình thường khỏe mạnh, nếu đột nhiên xuất hiện đau bụng từng cơn, gián đoạn, nhưng trong thời gian nghỉ giữa các cơn lại không tìm thấy dấu hiệu bất thường nào, thì đây là đặc điểm chính của bệnh. Đau bụng ở trẻ có thể kéo dài vài phút đến hàng chục phút, lúc xuất hiện lúc biến mất. Sau nhiều lần tái phát trong vài chục phút hoặc vài giờ, cơn đau có thể không còn xuất hiện nữa. Một số trẻ, đau bụng tái phát kéo dài vài ngày, mức độ đau khác nhau, nặng có thể khiến trẻ nằm xuống lăn lộn. Trường hợp điển hình, vị trí đau chủ yếu tập trung quanh rốn, nói cách khác, khu vực bị co thắt là ruột non. Khi ruột già đoạn đầu co thắt, đau ở vùng hạ vị bên phải; khi ruột già đoạn xa co thắt, đau ở vùng hạ vị bên trái; nếu trẻ đau bụng trước khi đi cầu, có thể do ruột già xuống hoặc ruột già chữ S co thắt. Một số trẻ lớn tuổi, cơn đau có thể xuất hiện ở vùng sườn, thường chỉ một bên, do ruột già khúc gan hoặc khúc lách co thắt. Trẻ nhỏ tuổi cũng có thể đau ở vùng dưới xương ức, do dạ dày co thắt. Về nghiêm túc, đây không phải là co thắt ruột mà là co thắt dạ dày, nhưng vì cơ chế gây bệnh tương tự, nên bấm huyệt điều trị vẫn có hiệu quả. Phương pháp bấm huyệt điều trị co thắt ruột: 1. Dạng hư hàn Kỹ thuật: đẩy, ma, day, kẹp. Chọn huyệt và vùng: huyệt Vận Dương, Tam Quan, Lục Phủ, Huyệt Phủ Dương, vùng rốn và vùng bụng xung quanh, huyệt Tỳ Thổ, Huyệt Túc Tam Lý. Phương pháp và yêu cầu thao tác: ① Chia đẩy huyệt Vận Dương, từ 100 đến 300 lần. ② Đẩy huyệt Tam Quan. Số lần đẩy Tam Quan phải lớn hơn ba lần số lần rút Lục Phủ. Nếu rút Lục Phủ 50 lần, thì đẩy Tam Quan ít nhất phải 200 lần, số lần cụ thể phụ thuộc vào mức độ hư hàn của trẻ. ③ Rút Lục Phủ, số lần phù hợp với số lần đẩy Tam Quan. ④ Chia đẩy huyệt Phủ Dương. Cho trẻ nằm ngửa, bác sĩ dùng hai ngón tay trái và phải, đồng thời từ phần dưới xương ức dọc theo mép sườn, đẩy sang hai bên đến đường nách, mỗi bên 200 lần. ⑤ Ma day vùng rốn bụng. Cho trẻ nằm ngửa, bác sĩ dùng lòng bàn tay ma nhẹ vùng bụng, duy trì vài phút cho cảm giác ấm nóng. Trong quá trình ma day bụng cho trẻ, một số trẻ có thể hơi trung khí; trẻ nhỏ tuổi, khi bác sĩ ma day bụng, có thể bài tiết phân; sau khi trẻ trung khí hoặc đi cầu, triệu chứng sẽ giảm rõ rệt. 2. Dạng thực nhiệt Kỹ thuật: đẩy, kẹp, nhấn, day. Chọn huyệt và vùng: huyệt Quan Nguyên, Lục Phủ, Thiên Hà Thủy, Nhất Oa Phong, Ngoại Lao Cung, Tứ Hành Văn. Phương pháp và yêu cầu thao tác: ① Chia đẩy huyệt Vận Dương: 100–300 lần. ② Đẩy huyệt Tam Quan: khoảng 300 lần. ③ Đẩy huyệt Lục Phủ: khoảng 900 lần. Làm sạch Thiên Hà Thủy: 100–200 lần. ④ Kẹp day huyệt Nhất Oa Phong: mỗi bên kẹp day vài chục lần. ⑤ Day huyệt Ngoại Lao Cung: dùng kỹ thuật day ngón tay, từ 10 đến vài trăm lần. ⑥ Đẩy Tứ Hành Văn: cho trẻ úp lòng bàn tay lên, bác sĩ dùng một ngón tay thực hiện động tác đẩy, lần lượt theo thứ tự đẩy các đường ngang ở mặt lòng bàn tay của khớp ngón tay thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm; mỗi vị trí đẩy vài chục lần. ⑦ Nắn lưng: cho trẻ nằm sấp, đầu hơi nâng lên, hoặc cha mẹ đỡ đầu trẻ để đầu hơi nâng lên. Lưng trẻ hướng về phía mặt và ngực bác sĩ. Bác sĩ dùng ngón trỏ và ngón giữa khép lại, ngón cái và ngón trỏ, ngón giữa đối diện nhau; hai ngón trỏ và ngón giữa sát nhau, cùng dùng phần mặt da tận cùng của ngón tay để nắm da vùng huyệt Khôu Vĩ, hai ngón cái ép sâu vào lưng, hai ngón trỏ và ngón giữa ép nhẹ ra ngoài lưng, như kiểu xoay vật, nắm da trẻ, dần dần di chuyển liên tục từ đuôi sống đến huyệt Đại Trụ. Thực hiện từ 6 đến 10 lần.
|