Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Châm cứu bấm huyệt / Khi châm cứu cần lưu ý điều gì?Bài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Khi châm cứu cần lưu ý điều gì?

Góc, hướng và độ sâu khi châm cứu là những yêu cầu cụ thể khi đưa kim vào dưới da. Việc nắm vững góc, hướng và độ sâu châm cứu là điều kiện then chốt để đạt được cảm giác kim, thực hiện phép bổ tả, phát huy hiệu quả châm cứu, nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa tai nạn do châm cứu.
Tính chính xác của vị trí huyệt không chỉ nằm ở vị trí bề mặt da, mà còn phải kết hợp với góc, hướng và độ sâu châm cứu đúng, mới phát huy được tác dụng điều trị của huyệt. Vì vậy, không thể đơn giản xem huyệt như một điểm nhỏ, mà phải có khái niệm huyệt theo không gian ba chiều.
Trong lâm sàng, cùng một huyệt nhưng nếu góc, hướng và độ sâu khác nhau, thì tổ chức đạt tới, cảm giác kim và hiệu quả điều trị cũng sẽ khác nhau.
Đối với bác sĩ lâm sàng, trình độ thành thạo kỹ thuật châm cứu gắn liền chặt chẽ với việc nắm chắc góc, hướng và độ sâu châm cứu. Góc, hướng và độ sâu châm cứu trong thực tế lâm sàng chủ yếu dựa vào vị trí xử lý, nhu cầu điều trị, thể trạng và hình thể bệnh nhân để linh hoạt điều chỉnh.
Một, góc châm cứu: Góc châm cứu là góc tạo bởi thân kim và bề mặt da khi tiến kim. Kích thước góc này phải tùy theo vị trí huyệt, tính chất bệnh, vị trí bệnh mà quyết định. Góc châm cứu thường chia thành ba loại: trực châm, lệch châm và bình châm.
1. Trực châm: thân kim vuông góc với bề mặt da (90^), châm thẳng vào huyệt. Phương pháp này phù hợp với phần lớn huyệt, đặc biệt là các huyệt ở vùng cơ bắp dày.
2. Lệch châm: thân kim tạo góc khoảng 45^ so với bề mặt da, châm xiên vào huyệt. Phương pháp này phù hợp với các huyệt ở vùng da mỏng, hoặc nơi có cơ quan nội tạng quan trọng, hoặc không nên châm sâu thẳng, hoặc ở các huyệt vùng khớp. Khi thực hiện một số kỹ thuật hành khí, điều khí, thường dùng lệch châm.
3. Bình châm (còn gọi là ngang châm, dọc da châm): thân kim tạo góc khoảng 15^ so với bề mặt da, châm ngang vào huyệt. Phương pháp này phù hợp với các huyệt ở vùng da mỏng, ít thịt. Như huyệt vùng đầu, mặt, xương ức, hay các kỹ thuật châm xuyên huyệt, châm đầu, châm cổ tay cổ chân đều dùng bình châm.
Hai, hướng châm cứu: Hướng châm cứu là hướng mà đầu kim hướng tới khi tiến kim và sau khi tiến kim, gọi tắt là hướng kim. Hướng châm cứu thường được xác định dựa theo hướng đi của kinh mạch, vị trí huyệt và tổ chức cần đạt tới. Hướng châm cứu tuy có liên quan đến góc châm cứu, ví dụ huyệt vùng đầu mặt thường dùng bình châm, huyệt vùng cổ, họng thường dùng ngang châm, huyệt vùng ngực giữa thường dùng bình châm, huyệt vùng sườn ngực thường dùng lệch châm, huyệt vùng bụng thường dùng trực châm, huyệt vùng lưng thắt lưng thường dùng lệch châm hoặc trực châm, huyệt vùng tứ chi thường dùng trực châm. Nhưng góc châm chủ yếu căn cứ vào đặc điểm vị trí huyệt, còn hướng châm phải căn cứ vào nhu cầu điều trị từng chứng bệnh.
Chỉ lấy huyệt Giáp xe làm ví dụ: khi dùng để điều trị chứng hàm đau, đau má, miệng khép không mở, đầu kim hướng về vùng thái dương, làm cảm giác lan tỏa khắp má; khi điều trị liệt mặt, méo miệng, đầu kim hướng về miệng; khi điều trị sưng má, đầu kim hướng về vùng tuyến nước bọt; nhưng khi điều trị đau răng thì dùng trực châm.
Ba, độ sâu châm cứu: Độ sâu châm cứu là mức độ kim châm vào da thịt huyệt. Việc nắm vững độ sâu châm cứu phải tuân theo nguyên tắc vừa có cảm giác khí đến dưới kim, vừa không tổn thương tổ chức cơ quan. Trong thực hành lâm sàng, độ sâu châm cứu của từng huyệt phải kết hợp với nhiều yếu tố như tuổi, thể chất, tình trạng bệnh, vị trí huyệt, độ sâu của kinh mạch, thời tiết, kinh nghiệm của bác sĩ và nhu cầu đạt được cảm giác khí, để điều chỉnh linh hoạt. Như lời dạy trong “Sử Vấn – Tỳ Yếu Luận”: “Châm cứu có sâu có nông, mỗi người đều phải đến mức lý tưởng, nếu không đúng độ sâu, sẽ trở thành mối họa lớn”, nhấn mạnh độ sâu châm cứu phải phù hợp.
Làm sao để nắm vững độ sâu châm cứu đúng? Cần lưu ý một số điểm sau:
1. Tuổi: “Linh Khúc – Nghịch Thuận Phì Thoại” viết: “Trẻ sơ sinh, người gầy, châm nhẹ và nhanh; người tráng niên, người béo, châm sâu và giữ lâu”. Người già thể lực suy yếu, khí huyết suy kiệt; trẻ nhỏ da thịt non nớt, chưa trưởng thành, đều không nên châm sâu. Người trẻ tráng niên, khí huyết dồi dào, có thể châm sâu hơn một chút.
2. Thể trạng: Thể trạng và hình thể bệnh nhân có sự khác biệt về béo, gầy, mạnh, yếu. “Tố Vấn – Tam Bộ Cửu Hầu Luận” viết: “Phải trước tiên đo thể hình béo gầy để điều chỉnh khí hư thực”, Trương Trí Thông cũng nói: “Biết thể hình béo gầy thì biết độ sâu châm cứu phù hợp”. Như vậy, người gầy yếu nên châm nhẹ, người béo mạnh có thể châm sâu hơn.
3. Vị trí: Các huyệt vùng đầu mặt, lưng ngực nên châm nhẹ; các huyệt vùng tứ chi, mông bụng có thể châm sâu hơn.
4. Kinh mạch: Kinh mạch phân bố trong cơ thể có độ sâu khác nhau, thuộc âm hay dương khác nhau. Văn kiện cổ xưa cho rằng kinh mạch sâu hơn, châm kinh nên sâu; kinh mạch nông hơn, châm kinh nên nông; kinh dương thuộc bề mặt nên châm nông, kinh âm thuộc bên trong nên châm sâu. Như “Linh Khúc – Dương Âm Thanh Trọc” viết: “Châm âm thì sâu và giữ lâu; châm dương thì nông và nhanh”. Nói chung, các kinh mạch đi qua khu vực khuỷu tay, khuỷu chân, đùi, gối thì sâu hơn, nên châm sâu; các kinh mạch đi qua cổ tay, cổ chân, ngón tay, ngón chân thì nông hơn, nên châm nông.
5. Tình trạng bệnh: “Linh Khúc – Vệ Khí Thiếu Thường” viết: “Bệnh biến hóa đa dạng, sâu nông, phập phù, không thể kể hết, mỗi bệnh đều ở vị trí riêng. Bệnh nhẹ thì châm nông, bệnh nặng thì châm sâu, bệnh nhẹ thì châm ít, bệnh nặng thì châm nhiều, tùy theo biến đổi mà điều chỉnh khí”. “Linh Khúc – Chung Thất” cũng nói: “Mạch thực thì châm sâu để giải khí; mạch hư thì châm nông để không làm thất thoát tinh khí, dưỡng mạch, loại bỏ tà khí riêng biệt”, cho thấy độ sâu châm cứu phải căn cứ vào chứng bệnh, cơ chế bệnh lý để điều trị.
6. Thủ pháp: “Y Học Nhân Môn” viết: “Bổ thì lấy khí từ vệ, nên dùng kim nhẹ nông, theo khí vệ mà bổ sung hư”; “Tả thì bỏ khí từ dung, nên dùng kim nặng sâu, lấy khí dung mà tả thực”, “Nan Kinh” nói: “Châm dung không tổn hại vệ, châm vệ không tổn hại dung”, đều nhấn mạnh trong thủ pháp châm cứu, độ sâu phải rõ ràng trong lòng, có mục tiêu rõ ràng. Nếu châm sâu lại châm nông, thì chưa chạm đến dung mà đã tổn hại vệ; nếu châm nông lại châm sâu, thì quá mức gây tổn thương dung.
7. Thời tiết: Cơ thể con người liên hệ mật thiết với thời tiết, châm cứu phải điều chỉnh theo mùa. “Tố Vấn – Trí Yếu Kinh Trung Luận” viết: “Xuân hạ thu đông, mỗi mùa đều có quy luật riêng”. Về độ sâu châm cứu, phải vừa căn cứ vào tình trạng bệnh, vừa kết hợp với thời tiết. “Linh Khúc – Bản Thử” viết: “Xuân lấy các mạch mạng, các huyệt Dung, các kinh lớn, các khe cơ, bệnh nặng thì châm sâu, bệnh nhẹ thì châm nông; Hạ lấy các huyệt thư, các mạch nhỏ, mô cơ, da; Thu lấy các huyệt hợp, tương tự như mùa xuân; Đông lấy các huyệt Tân, các huyệt thư, các khe phân, muốn sâu và giữ lâu”. Thông thường, mùa xuân hè nên châm nông, mùa thu đông nên châm sâu, quy luật này dựa theo “Nan Kinh”: “Xuân hạ, dương khí ở trên, khí người cũng ở trên, nên châm nông; thu đông, dương khí ở dưới, khí người cũng ở dưới, nên châm sâu”. Nếu không theo quy luật thời tiết, thì như “Tố Vấn – Tứ Thời Châm Nghịch Tòng Luận” nói: “Tất cả các kiểu châm cứu theo bốn mùa này, nếu trái ngược sẽ gây bệnh loạn khí, sinh bệnh”.
8. Cảm giác kim: Khi châm, nếu cảm giác tê, châm, căng, nặng mạnh, xuất hiện nhanh, hoặc bệnh nhân lo lắng, sợ kim, nên châm nông hơn; nếu cảm giác chậm hoặc nhỏ, nên châm sâu hơn. Như “Châm Cứu Đại Thành” nói: “Khi châm sâu nông, nếu sợ kim thì dừng lại”, nghĩa là độ sâu châm cứu phải căn cứ vào cảm giác kim, lấy đạt khí làm chuẩn. Góc, hướng và độ sâu châm cứu có mối quan hệ không thể tách rời. Nói chung, châm sâu thường dùng trực châm, châm nông thường dùng lệch châm hoặc bình châm. Với các huyệt vùng tuỷ sống, vùng mắt, vùng ngực bụng, lưng thắt lưng, do có các cơ quan nội tạng quan trọng, cần đặc biệt chú ý góc, hướng và độ sâu châm cứu để tránh tai nạn do châm cứu.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]