Viêm khớp vai theo y học cổ truyền Trung Hoa gọi là “Lậu phong khả”, “Ngũ thập khả”, hay “Băng kết khả”, là một trong những bệnh lý cơ khớp mãn tính phổ biến ở người trung niên và cao tuổi. Bệnh kéo dài, thường hơn nửa năm, biểu hiện là đau âm ỉ hoặc đau nhói ở vai, đau có thể lan đến cổ hoặc cánh tay, đau tăng vào ban đêm, thậm chí không ngủ được, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày của người trung niên và cao tuổi. Bác sĩ chuyên khoa cấp II Hoàng Quốc Minh, Bệnh viện Trung y Thanh Nguyên, Quảng Đông, đã áp dụng phương pháp châm cứu ấm điều trị viêm khớp vai cho 84 bệnh nhân, đạt hiệu quả tốt. Chuẩn đoán: Một là, bệnh nhân tuổi khoảng 50, người trung niên và cao tuổi; hai là, đau vai, đau ở các vị trí trước vai, sau vai, gai vai, dưới mấu xương vai, gân cơ nhị đầu cánh tay; ba là, hạn chế vận động chủ động và thụ động ở bất kỳ hướng nào của khớp vai, thậm chí cứng vai, teo cơ; bốn là, X-quang khớp vai không thấy trật khớp hay gãy xương, hoặc chỉ thấy loãng xương, canxi hóa gân cơ trên vai. 42 bệnh nhân nhóm điều trị dùng phương pháp châm cứu ấm: Bệnh nhân ngồi, lộ rõ vùng vai, chọn huyệt A thị, Thiên du, Thiên trinh, Thiên tiền, Thiên liêu, Khúc trì, tiêm chuẩn bị sẵn kim 30 số, dài 2 tấc, sau khi khử trùng thông thường, tiến hành châm cứu. Sau khi châm, dùng kỹ thuật nâng, hạ, xoay, đảo, khi cảm giác khí đến, đặt que thuốc cứu dài 2 cm lên đầu kim, cắt miếng giấy hình tròn che phủ vùng da xung quanh kim để tránh cháy da do lửa cứu, sau đó đốt que cứu, để nhiệt lượng từ que cứu truyền qua kim đến huyệt, đợi que cứu cháy hết, nguội đi thì rút kim. 42 bệnh nhân nhóm đối chứng dùng phương pháp điện châm: Bệnh nhân ngồi, lộ rõ vùng vai, chọn huyệt giống nhóm điều trị. Sau khi khử trùng thông thường, dùng kim 30 số, dài 2 tấc, châm nhanh, dùng kỹ thuật bình bổ bình tả, sau đó nối máy điện châm D8606-II, dùng sóng mật, cường độ dòng điện tùy theo mức chịu đựng của bệnh nhân, rút kim sau 30 phút. Liệu trình liên tục 10 lần, đánh giá hiệu quả sau 3 tháng. Theo tiêu chuẩn hiệu quả do Ủy ban chuyên ngành bệnh lý thấp khớp Hội Liên hiệp Y học Trung - Tây Y lần thứ nhất đề xuất, khỏi hoàn toàn: đau vai biến mất hoàn toàn, chức năng khớp phục hồi bình thường; hiệu quả rõ rệt: đau vai giảm rõ rệt, chức năng khớp phục hồi gần như bình thường; hiệu quả: bệnh nhân cảm thấy triệu chứng giảm nhẹ, phạm vi vận động khớp vai cải thiện nhẹ; không hiệu quả: triệu chứng và dấu hiệu không thay đổi sau điều trị, chức năng khớp không cải thiện. Kết quả: tỷ lệ khỏi của nhóm điều trị là 71,4%, tổng tỷ lệ hiệu quả là 92,5%; nhóm đối chứng tỷ lệ khỏi là 42,8%, tổng tỷ lệ hiệu quả là 78,6%. Khớp vai là khớp do đầu xương cánh tay và ổ khớp xương bả vai tạo thành, là khớp có phạm vi vận động lớn nhất và linh hoạt nhất trong cơ thể. Viêm khớp vai thường gặp ở người trung niên và cao tuổi, chủ yếu do tổn thương cấp tính (chấn thương chi trên, phẫu thuật, v.v.) hoặc tổn thương mạn tính (thiếu gió, lạnh, hoặc khớp vai không vận động trong thời gian dài), dẫn đến tổ chức mềm như cơ, gân, dây chằng, túi hoạt dịch và bao khớp bị viêm vô trùng do sung huyết, rò rỉ, phù nề, dính kết. Khi cơ thể còn bù trừ được thì có thể không có triệu chứng lâm sàng, nhưng khi nguyên nhân vẫn tồn tại, cơ thể không bù trừ được thì sẽ xuất hiện đau khớp vai và rối loạn chức năng. Theo y học cổ truyền Trung Hoa, viêm khớp vai thuộc phạm vi “bế chứng”, cụ thể là “bệnh lý mười hai kinh kinh”, cho rằng nguyên nhân là do ngoại thương, lao tổn, nội thương, lao lực, cộng với tuổi trung niên trở lên khí huyết dần suy yếu, khiến phong, hàn, thấp xâm nhập vào vai, gây tắc nghẽn kinh mạch vai, khí trệ huyết ứ. “Thông tắc thì không đau, đau thì tắc”, vì vậy bệnh nhân sau khi mắc bệnh thường đau vai tái phát, kèm theo rối loạn chức năng. Châm cứu ấm kết hợp với việc chọn huyệt theo vị trí bệnh lý kinh kinh, sau khi châm, dùng kỹ thuật nâng, hạ, xoay, đảo để đạt khí, sau đó kết hợp cứu, nhờ sức nóng của cứu để thông kinh lạc, lưu thông khí huyết, cuối cùng loại bỏ phong, hàn, thấp trong vai, bệnh được chữa khỏi. Nghiên cứu lý thuyết kinh lạc y học cổ truyền hiện đại chứng minh rằng bức xạ hồng ngoại phát ra khi cứu có thể xuyên sâu vào mô tổ chức, tăng cường chuyển hóa mô tổ chức tại chỗ, giảm tính kích thích của thần kinh xung quanh tổn thương, có lợi cho phục hồi chức năng tổn thương. Ngoài ra, cứu còn tác động vào thần kinh, mạch máu gần huyệt thông qua hiệu ứng nhiệt, hiệu ứng bức xạ ánh sáng và tác dụng dược lý của cứu, điều chỉnh áp suất thẩm thấu huyết tương tại chỗ, cải thiện tuần hoàn máu tại chỗ, tăng cường chức năng miễn dịch tại chỗ, từ đó thúc đẩy tiêu viêm và phục hồi chức năng.
|