Việc sử dụng rộng rãi kháng sinh đã mang lại niềm vui trong việc loại bỏ và kiểm soát các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, cùng với việc cập nhật liên tục và sử dụng rộng rãi kháng sinh, các bệnh do thuốc ngày càng gia tăng, tiêu chảy liên quan kháng sinh là một trong số đó. Bệnh này phổ biến nhất ở trẻ em, vì xảy ra tiêu chảy liên quan kháng sinh ở trẻ em liên quan đến phổ kháng sinh, thời gian sử dụng, sự khác biệt cá thể, chức năng miễn dịch toàn thân và tại chỗ ruột, và yếu tố nguy cơ cao nhất là dùng kháng sinh phổ rộng kết hợp và dùng kéo dài, do đó hiện nay điều trị y học phương Tây, dù về phương pháp, cách thức hay lựa chọn thuốc, hiệu quả đều không bằng điều trị bằng y học cổ truyền. Một, chẩn đoán Trẻ em sau khi dùng kháng sinh trong vòng 2 tháng xuất hiện tiêu chảy, phân dạng nước, dạng bột, kéo dài hơn 2 ngày, đều phải nghi ngờ khả năng mắc tiêu chảy liên quan kháng sinh, cần điều trị theo đúng tiêu chuẩn. Hai, chẩn trị theo chứng (1) Chứng tỳ hư: Trẻ em trong quá trình dùng kháng sinh hoặc sau đó tiêu chảy tái phát, kéo dài, phân loãng hoặc dạng nước, có lẫn sữa hoặc cặn thức ăn chưa tiêu hóa, mệt mỏi, ăn kém, da xanh nhợt, lưỡi nhạt, lưỡi trắng dính, mạch yếu. Điều trị nên kiện tỳ chỉ tả, phương dùng Thất vị Bạch Truật Tán gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật mỗi vị 12g, Cát căn, Sơn dược, Thần khúc, Bán đậu mỗi vị 9g, Mộc hương, Cam thảo mỗi vị 3g. Nếu đầy bụng đau, thêm Giau tam tiên; nếu phân loãng, chưa tiêu hóa hoàn toàn, thêm Can khương, Nhục quế; nếu tiêu chảy kéo dài, không có tích trệ, thêm Xích thạch tư, Hỏa tử. (2) Chứng tỳ thận dương hư: Bệnh nhân sau khi dùng kháng sinh lâu dài hoặc tái diễn, xuất hiện phân lỏng, chưa tiêu hóa hoàn toàn, thể trạng gầy gò, tứ chi lạnh, lưỡi nhạt, lưỡi trắng, mạch tế yếu. Điều trị nên ôn bổ tỳ thận, cố sáp chỉ tả, phương dùng Bổ Tỳ Lý Trung Thang hợp Tứ Thần Hoàn gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật, Bổ cốt chỉ, Ngô thù du mỗi vị 10g, Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử mỗi vị 6g, Phục tử, Bào can mỗi vị 3g. Nếu tiêu chảy kéo dài, thêm Xích thạch tư, Trần tử, nếu sa trực tràng, thêm Hoàng kỳ, Thăng ma. Trong quá trình điều trị bằng y học cổ truyền, cần ngừng dùng kháng sinh, nếu cần dùng phải có căn cứ về nguyên nhân gây bệnh và xét nghiệm nhạy cảm thuốc. Ba, liệu pháp trường hiệu ứng Dùng máy liệu pháp trường hiệu ứng điều trị bệnh này vừa tiện lợi, an toàn, hiệu quả rõ rệt. Đặt đệm trường hiệu ứng cố định tại vị trí trung tâm rốn trẻ, bệnh nhẹ dùng liều yếu, bệnh nặng dùng liều trung bình, thời gian điều trị mỗi lần 30 phút. Trẻ nhẹ mỗi ngày 1 lần, trẻ nặng mỗi ngày 2 lần. Ý nghĩa của liệu pháp trường hiệu ứng là thông qua kích thích rốn, đạt được mục đích kiện tỳ ích vị, ích khí cố thoát, ôn bổ hạ nguyên, thúc đẩy phục hồi chức năng vận hóa của tỳ vị. Y học hiện đại cho rằng trường hiệu ứng có thể cải thiện tuần hoàn vi mô tại chỗ, giãn mạch ruột, làm máu dồn vào da, tăng lưu lượng máu, vừa có lợi cho việc hấp thu nước ở ruột non nhanh hơn, vừa có lợi cho việc tỏa nhiệt, đồng thời đơn giản, dễ thực hiện, thuận tiện cho điều trị tại nhà. Bốn, điều trị bằng thuốc hoàn đông y Thuốc hoàn đông y dành cho trẻ như Tiểu nhi Chỉ tả phiến, Tiểu nhi Chỉ tả Sắc, Tiểu nhi Kiện Tỳ Chỉ tả Phiến, có chức năng kiện tỳ hòa vị, ôn trung lợi thấp, sáp trường chỉ tả, nên dùng theo độ tuổi khác nhau. Chỉ chọn một loại thuốc hoàn đông y. Trong khi dùng thuốc hoàn đông y, cần ngừng tất cả kháng sinh. Năm, liệu pháp bấm huyệt Dùng các kỹ thuật bấm huyệt bổ tỳ kinh, bấm tam quan, bổ đại trường, bóp rốn, bấm thượng thất tiết cốt, bóp quỷ vĩ, bấm gánh lưng, phù hợp với chứng tỳ hư. Với chứng tỳ thận dương hư, thêm bổ tỳ kinh, bóp ngoại lao. Thời gian bấm huyệt không được ít hơn 30 phút, mỗi ngày 1–2 lần. Sáu, liệu pháp đắp ngoài Lấy ngũ bội tử, tiểu hồi hương, nhục quế, đinh hương, hồ tiêu, Ngô thù du, Mộc hương, Nguyên hồ mỗi vị bằng nhau, sấy khô, tán thành bột, mỗi lần 1–2g, trộn đều đắp vào rốn, mỗi ngày đổi thuốc 1 lần, thường khỏi sau 3–5 ngày.
|