Kinh nguyệt đau là bệnh phổ biến trong phụ khoa, thường được chia thành các loại khí trệ huyết ứ, hàn đình tử cung, can thận hư tổn để điều trị. Các phương thuốc cổ điển như Diêu Hồng Tứ Vật Thang, Ô Kinh Thang, Điều Can Thang đều có hiệu quả. Trong đó, kinh nguyệt đau dạng màng, đau do lạc nội mạc tử cung nặng hơn, tuy nhiên vẫn có phương thuốc riêng biệt mang lại hiệu quả. Bài viết này đặt tên cho bệnh này là chứng kinh nguyệt đau do âm hư thấp nhiệt ứ kết. Bệnh này thường gặp ở nữ giới trẻ tuổi vùng đất thấp, nơi có nhiều sông hồ, và đều có tiền sử vệ sinh không cẩn thận khi hành kinh như tắm sông, bơi lội, bắt cá, làm việc dưới nước, hoặc bị mưa ngoài trời. Khi bệnh phát, bụng căng cứng, nóng rát, đau dữ dội, nóng lên càng đau hơn. Cũng có trường hợp đau giảm khi dùng nhiệt敷 (nóng), thuộc loại hàn đình tử cung; có nhiều cục máu đen, khác với chứng khí huyết trệ ứ (đau nhiều, đau ít), cục máu ít, màu đỏ hơn; cũng khác với chứng kinh nguyệt đau dạng màng (có vật chất dạng màng). Bệnh này thực chất là do hàn tà thấp thủy xâm nhập vào tử cung trong kỳ kinh, lâu ngày hóa nhiệt độc, ứ kết, tổn thương tử cung gây ra kinh nguyệt đau, do đó bệnh tình phức tạp, vừa hư vừa thực, đau nặng. I. Phân tích nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Thấp thủy tà uế vốn là tà âm hàn, tính chất dính nhớ, ngăn cản khí cơ, bệnh dễ kéo dài dai dẳng. Ban đầu tổn thương dương khí, lâu ngày thấp hàn hóa nhiệt độc, tổn thương âm phần. Phụ nữ khi hành kinh, lớp nội mạc tử cung bong ra để đào thải máu cũ, lúc này vết thương tử cung chưa liền, thấp thủy tà uế độc trực tiếp xâm nhập vào vết thương, tử cung dễ bị tổn thương. Nước kinh ấm đột ngột tiếp xúc với nước lạnh, thấp thủy, mạch tử cung chắc chắn sẽ đông lại, đây là một nguyên nhân gây kinh nguyệt đau. Thường thấy phụ nữ hành kinh ăn đồ lạnh hoặc bụng bị lạnh mà bị đau kinh, điều này chứng minh rõ ràng mạch tử cung đông lại do lạnh có thể gây đau kinh. Theo quan điểm y học hiện đại: nước sông hồ thường lạnh, không sạch, thường chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Trong kỳ kinh, vết thương tử cung chưa lành, nếu tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm này, tử cung dễ bị vi khuẩn xâm nhập, gây viêm. Y học hiện đại gọi là viêm ổ bụng, viêm nội mạc tử cung gây đau bụng, đều cho rằng liên quan đến việc ngâm nước trong kỳ kinh hoặc tắm rửa không sạch, quan hệ tình dục. Khi có viêm thường có dịch tiết bệnh lý, y học cổ truyền xếp vào loại đàm uế, huyết ứ. Bệnh kéo dài, tử cung chắc chắn tích tụ thấp thủy tà uế, tích tụ lâu ngày hóa thành thấp nhiệt, ứ kết gây hại. Mạch tử cung gặp lạnh thì trệ, lại bị nhiệt độc thâm nhập, ứ kết ngày càng nặng, cuối cùng là cả lạnh và nhiệt giao tranh, khí huyết xung đột, tà nhiệt độc áp bức, cuối cùng khiến mạch tử cung tắc nghẽn, lâu ngày thành chứng khối u do máu ứ. Khi hành kinh, mạch tử cung bị khối máu chặn đường đi, kinh huyết bị ngăn cản, “bất thông tắc thống” (không thông thì đau); đồng thời do kinh huyết bị tắc, cung cấp máu cho tử cung bị thiếu oxy, cơ tử cung phải co thắt mạnh mẽ, khiến máu ứ và mảnh vụn bị đẩy vào vết thương chưa lành của tử cung, vì vậy đau rất dữ dội. Người bệnh đau dữ dội, cuộn tròn, mặt tái nhợt, ra mồ hôi lạnh, thậm chí ngất xỉu. Đau dữ dội kéo dài 3–4 ngày, người bệnh như bị bệnh nặng, có người nằm liệt giường vài ngày mới hồi phục, mất nửa tháng mới bình phục, nhưng không lâu sau lại đau bụng khi hành kinh. Lặp lại như vậy, khí huyết bị tổn thương nghiêm trọng, cũng tổn thương khí nguyên công nhiệm, hao tổn âm can thận, lâu ngày chắc chắn dẫn đến âm hư nội nhiệt. Nội nhiệt cộng với nhiệt độc thấp uế đốt cháy, khiến mạch tử cung thêm tổn thương do âm hư, nhiệt kết, huyết ứ, làm tắc nghẽn mạch kinh càng nặng, khiến kinh huyết khó lưu thông, không sạch, để lại máu hư gây hại. Câu nói cổ xưa: “Thận khí thịnh, mạch xung lưu thông”. Nếu thận khí không thịnh, mạch xung nhiệm không lưu thông chắc chắn dẫn đến kinh nguyệt đau. Tiết Thiên Thổ tiên sinh nói: “Vì phụ nữ lấy can làm tiên thiên. Can âm không đủ, tương hỏa bốc lên không kiểm soát, gốc rễ đã suy yếu rồi, gấp rút dưỡng can thận âm, chẳng phải là biện pháp cứu viện sao?” Nhiều nhà y học hiện đại cho rằng thiếu máu (bao gồm âm hư) có thể khiến phụ nữ bị huyết ứ và gây kinh nguyệt đau. Giáo sư蔡小荪 chuyên gia phụ khoa Thượng Hải nói: “Về tỷ lệ hư thực trong kinh nguyệt đau, Trương Cảnh Nhạc nói: ‘Mọi phụ nữ hành kinh đau, phần lớn có hư, hoàn toàn thực rất ít.’ Câu nói này thật sự có lý. Nhưng khi bệnh tiến triển đến mức này, giống như thuyền chở hàng trên sông cạn, chắc chắn sẽ bị tổn thương. Người bệnh không chỉ đau dữ dội, mà còn rơi vào tình trạng hư thực hỗn tạp, chính khí suy yếu, tà khí mạnh, bệnh nặng, phức tạp, khó chữa.” II. Điều trị theo chứng Thấp nhiệt tà uế ứ kết ở tử cung, mạch tử cung bị tắc nghẽn gây đau, lâu ngày tổn thương mạch xung nhiệm. Can thận âm hư chắc chắn sinh nội nhiệt, mạch tử cung âm tắc càng nặng, cuối cùng thành chứng kinh nguyệt đau nặng, hư thực hỗn tạp, bệnh phức tạp, khó chữa. Cần dùng phương pháp bổ âm, hóa thấp, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết. Ngay lập tức bổ âm can thận, phòng ngừa khô kiệt nguồn sinh khí乙癸, bổ sung máu hải và mạch tử cung bị tổn thương. Làm sạch thấp uế nhiệt độc trong tử cung, thông suốt mạch tử cung bị tắc nghẽn, sửa chữa tổn thương do thấp nhiệt độc gây ra, phục hồi chức năng hành kinh bình thường. Đề xuất phương thuốc cơ bản: Đại sinh địa 30-60g Bắc sâm 20-30g Sinh bạch thược 30-45g Sinh cam quả 9g Địa hoàng 20g Thục dương cầm 20g Trạch lan diệp 10g Bại giang thảo 20g Trạch tả 10g Bạc hương diệp 10g Nhẫn đông đằng 30-50g Đan sâm 15-20g Xuyên khuông tử 6g Nguyên hồ 6-10g Dưỡng mẫu thảo 20g Huyết quyết phấn 2g (pha uống) Dịch nhân 30g Bạch đầu ông 10g Thêm giảm: nếu can thận hư thêm Tỳ giải tử, Tầm xuân, Nữ trinh tử; nếu thấp nhiệt nặng thêm Hồng đằng, Hổ trượng căn, Tiểu thanh thảo (Tế tang); nếu khí huyết hư thêm Thục địa, Đảng sâm. III. Kinh nghiệm Bệnh này hư thực hỗn tạp, nặng, khó chữa, luôn do âm hư thấp tà nhiệt độc ứ kết gây hại. Phương thuốc tự đề xuất trọng dụng sinh địa, sinh bạch thược, Bắc sâm để bổ âm can thận mạnh mẽ, bổ sung nguồn máu hải, mạch tử cung. Các vị thuốc hóa thấp dễ tổn thương âm, do đó trọng dụng thuốc bổ âm là tất yếu, nhằm phòng ngừa hư thực càng làm tổn thương âm can thận. Dù thuốc bổ âm dễ dính thấp, thông thường là cấm kỵ khi điều trị thấp, nhưng nhiều học giả y học cổ truyền hiện đại cho rằng phối hợp thuốc bổ âm và thuốc hóa thấp là tương hỗ lẫn nhau. Chuyên gia y học cổ truyền nổi tiếng Triệu Siêu Tần giỏi xử lý phương pháp bổ âm hóa thấp, dùng để điều trị các chứng âm hư thấp nhiệt. Âm can thận đầy đủ, càng thuận lợi cho thuốc thanh nhiệt hóa thấp, hoạt huyết phát huy hiệu quả, giúp loại bỏ thấp, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết. Giúp bệnh sớm khỏi. Liều lượng lớn sinh bạch thược phối hợp với cam thảo còn có tác dụng giải cơ co thắt, giảm đau. Xuyên khuông tử, nguyên hồ phối hợp là cặp thuốc danh tiếng Kim Linh Tử Tán, giỏi giảm đau mọi loại, hiệu quả vượt qua thất tiếu tán. Hơn nữa, không sợ mùi hôi tanh gây hại dạ dày. Huyết quyết, bạch đầu ông, đan sâm, trạch lan, thục dương cầm phối hợp tăng cường hiệu quả hoạt huyết giảm đau. Trong đó, bạch đầu ông là vị thuốc quý được phát hiện gần đây, rất tốt trong điều trị đau do huyết ứ, u báng ở phụ khoa. Thục dương cầm (bạch mao đằng) không chỉ có tác dụng thanh nhiệt giải độc mạnh, mà còn có hiệu quả giảm đau kỳ diệu. Chuyên gia y học cổ truyền nổi tiếng, danh y Chiết Giang Hà Nhân sáng tạo bài thuốc Tiên Hạc Thảo phối hợp với thục dương cầm để giảm đau kịch liệt ung thư. Huyết quyết không chỉ hoạt huyết giảm đau, mà còn có khả năng sinh cơ, dùng để sửa chữa tử cung bị tổn thương. Địa du, địa hoàng, nhẫn đông đằng, bại giang thảo phối hợp với bạc hương, dịch nhân tạo thành nhóm thuốc mạnh mẽ thanh nhiệt hóa thấp, tán kết, loại bỏ thấp, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết. Khi thấp tan, nhiệt trừ, độc giải, nguồn sinh khí乙癸 được làm sạch, sinh huyết mới, chính khí dần phục hồi, kinh nguyệt đau tự khỏi. Phương thuốc tự đề xuất phù hợp với chứng kinh nguyệt đau do âm hư thấp nhiệt ứ kết, dùng trong lâm sàng đạt hiệu quả tốt.
|