Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thường thức Đông y / Ứng dụng mới của phương Lý Trung Thang trong lâm sàngBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Ứng dụng mới của phương Lý Trung Thang trong lâm sàng

Lý Trung Thang xuất xứ từ “Nhiễm bệnh luận” của Trương Trọng Cảnh, gồm nhân sâm, can khương, bạch truật, chích thảo. Trong phương, can khương vị cay nóng, được chọn làm quân, ôn trung tiêu vị, trừ hàn nội; nhân sâm bổ khí nguyên, hỗ trợ vận hóa, điều hòa thăng giáng, là thần dược, bổ khí kiện tỳ; bạch truật kiện tỳ trừ thấp, chích thảo bổ khí hòa trung, bổ thổ. Các vị thuốc phối hợp với nhau, hàn nội trung tiêu được trừ bằng vị cay nóng, hư trung tiêu được phục hồi bằng vị ngọt ấm, thanh dương thăng, trọc âm giáng, vận hóa khỏe, trung tiêu được điều trị, do đó gọi là “Lý Trung”. Thường dùng cho các bệnh do trung tiêu hư hàn gây ra như xuất huyết do dương hư, trẻ em chậm kinh, ngực bí, sau bệnh hay nuốt nước bọt, nôn mửa, tiêu chảy, đau dạ dày, v.v. Tổng quan phương này, dù điều trị nhiều bệnh, nhưng thực chất luôn không rời khỏi trung tiêu hư hàn, do đó có thể dùng phương pháp “bệnh khác nhưng chứng giống nhau”.
I. Trẻ em chậm kinh
Ông Tôn, nam, 2 tuổi 6 tháng, khám lần đầu ngày 15 tháng 7 năm 2000. Mẹ ông kể: Trong 2 tháng gần đây mỗi ngày tiêu chảy 3-4 lần, phân trong, không mùi, lượng trung bình, dạng trứng, có chất chưa tiêu, ăn kém, thỉnh thoảng có co giật. Quan sát bé: mặt nhợt, tinh thần uể oải, tay chân lạnh, bụng mềm, hơi đầy, lưỡi nhợt, lớp phủ trắng mỏng, mạch trầm, dấu vân tay nhạt tím, thoáng qua tận mệnh. Chẩn đoán là trẻ em chậm kinh, chứng thuộc tỳ dương hư suy, điều trị bằng cách ôn trung trừ hàn, kiện vận tỳ dương. Phương thuốc: Lý Trung Thang nguyên phương, sắc uống, ngày 1 thang, dặn sau khi uống thuốc ăn cháo nóng. Hai ngày sau tái khám: tinh thần rõ ràng cải thiện, số lần tiêu chảy giảm còn 1-2 lần/ngày, co giật ngừng, ăn uống tăng, tiếp tục dùng phương thuốc nguyên bản thêm 3 thang, các triệu chứng đều biến mất. Theo: “Tiểu nhi dược chứng trực quyết” viết: “Trẻ em chậm kinh, do sau bệnh hoặc nôn mửa, tiêu chảy, hoặc thuốc hại tỳ vị,... đây là chứng hư sinh phong, không có dương.” Trường hợp này do ăn uống không điều độ, nuôi dưỡng không đúng cách, tổn thương tỳ vị, tỳ dương hư nặng gây ra tiêu chảy, co giật và các triệu chứng khác. Do đó dùng Lý Trung Thang ôn vận tỳ dương, khiến thổ thực thì mộc không thể xâm nhập, các triệu chứng tự khỏi.
II. Cảm cúm thể hư
Bà Hồ, nữ, 52 tuổi, cán bộ. Bệnh nhân bị cảm cúm tái phát hơn năm năm, lần này bị lạnh cảm, dùng phương thuốc Tham Tô Ẩm hiệu quả không rõ rệt, đến khám tại bệnh viện chúng tôi. Khám thấy thể hình gầy, mặt nhợt, đau đầu, nghẹt mũi, sợ lạnh, sợ gió, đau cơ thể, khó chịu trong lòng, thỉnh thoảng buồn nôn, ăn kém, lưỡi nhợt, lớp phủ trắng mỏng, mạch trầm, chậm, yếu. Kết hợp chẩn đoán triệu chứng, chứng thuộc tỳ vị hư yếu, ngoại tà hàn xâm nhập, điều trị bằng cách ôn trung kiện tỳ, hòa dưỡng giải biểu, dùng Lý Trung Thang gia thêm Quế chi 6g, Cát căn 15g, Bạch thược 15g, Chích thảo 5g. Uống 3 thang, các triệu chứng giảm rõ rệt, nhưng vẫn đầy bụng, ăn kém, vẫn dùng phương thuốc nguyên bản gia thêm Trúc bì 10g, Mộc hương 6g, uống thêm 3 thang thì khỏi. Theo: “Nhiễm bệnh luận” điều 163 viết: “Bệnh tai dương, biểu chứng chưa hết, nhưng bị hạ nhiều lần, dẫn đến nhiệt hiệp, tiêu chảy không ngừng, tim đầy, biểu lý không giải, dùng Phương Quế Chi Nhân Sâm Thang.” Quế Chi Nhân Sâm Thang chính là Lý Trung Thang gia thêm Quế chi, ban đầu dùng cho chứng tiêu chảy do hạ sai ở bệnh tai dương. Trường hợp này dù không bị hạ sai, nhưng dương khí vốn hư, lại cảm ngoại hàn, cũng thuộc chứng biểu lý, chủ yếu là chứng lý, do đó dùng phương này giải biểu lý, hiệu quả đáng tin cậy.
III. Nôn nước miếng
Bà Tần, nữ, 42 tuổi, nông dân, khám lần đầu ngày 2 tháng 6 năm 1999. Tự kể: Sau phẫu thuật loét dạ dày chảy máu, nôn ra rất nhiều nước miếng trong suốt, kèm theo ăn kém, mệt mỏi kéo dài ba năm. Đã dùng thuốc Đông – Tây y điều trị, hiệu quả không rõ rệt, nên đến khám tại bệnh viện chúng tôi. Khám thấy mặt vàng nhợt, tinh thần uể oải, tay chân lạnh, bụng mềm, hơi đầy, lưỡi nhợt trắng, lớp phủ trắng mỏng, mạch trầm, yếu. Chính là chứng tỳ khí hư hàn, điều trị bằng cách ôn trung bổ tỳ ích khí, thu tinh chỉ nước miếng, phương dùng Lý Trung Thang gia Phụ tử (sắc trước 40 phút) 6g, Dịch trí nhân 9g, Ô dược 6g. Uống 3 thang, nôn nước miếng trong ngừng, ăn uống tăng, tinh thần cũng tốt hơn. Dùng phương thuốc nguyên bản tiếp thêm 7 thang, các triệu chứng biến mất, ăn uống bình thường, bệnh khỏi. Theo dõi một năm không tái phát. Theo: Tỳ chủ đàm, thận chủ nước miếng, tỳ khí hư hàn, không thể thu tinh, tinh dịch trào lên miệng gây nôn nước miếng. Trường hợp này điều trị cả tỳ – thận, dùng Lý Trung Thang ôn dương tỳ, Phụ tử, Dịch trí nhân, Ô dược ôn thận thu tinh chỉ nước miếng, đạt hiệu quả dương khí tỳ – thận mạnh, vận hóa thủy thấp, khiến tinh dịch không trào lên miệng, bệnh khỏi.
IV. Bệnh ngực bí
Bà Đàm, nữ, 50 tuổi, khám ngày 5 tháng 3 năm 1998. Tự kể: Đau ngực, ngực bí, tim đập nhanh, mỗi ngày phát tác 3-5 lần, phát tác kèm theo khó thở, đổ mồ hôi, vận động tăng nặng, uống thuốc giãn cơ tim và nghỉ ngơi nằm thì giảm, bệnh nhân thể trạng béo phì, mặt trắng nhợt, sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, ăn kém, thường đau xuyên qua lưng, thỉnh thoảng tim đập nhanh, được chẩn đoán bởi chụp mạch vành Tây y là “bệnh tim mạch vành”. Lưỡi trắng béo, mạch trầm chậm. Chứng thuộc tỳ vị hư hàn, dương khí ngực không vận, điều trị bằng cách kiện tỳ vị, vận dương ngực, thông huyết lạc. Phương thuốc: Lý Trung Thang gia thêm Quế chi 6g, Trư thực 10g, Toàn khâu lầu 30g, Huyết bạch 15g, Bán hạ 6g. Uống liên tục một tuần, đau ngực biến mất, các triệu chứng khác cải thiện. Theo: “Y môn pháp luật” viết: “Bệnh ngực bí chủ yếu do dương hư, do đó âm có thể xâm nhập.” Bệnh nhân thể trạng béo, dương khí vốn yếu, dương khí ngực không vận, hàn tà xâm nhập vào vị trí dương, bế tắc khí cơ gây ra bệnh ngực bí. Trường hợp này điều trị từ gốc, dùng Lý Trung Thang ôn trung kiện tỳ, bồi bổ dương khí; dùng Quế tâm, khâu lầu, huyết bạch cay ấm thông dương, rộng ngực lý khí, điều trị cả gốc lẫn biểu, nên đạt hiệu quả tốt.
V. Viêm miệng tái phát
Bà Thi, nữ, 38 tuổi, khám lần đầu ngày 5 tháng 6 năm 1999. Viêm miệng tái phát năm năm, mỗi khi mệt mỏi đều phát bệnh. Được chẩn đoán xác định là viêm miệng tái phát bởi y học phương Tây. Đã dùng thuốc Đông – Tây y, thuốc bôi Tinh loại tán, hiệu quả không tốt. Khám thấy các vết loét ở trong môi trên – dưới, mép lưỡi, đỉnh lưỡi, kích thước khác nhau, lớn bằng hạt đậu, nhỏ bằng hạt gạo, mặt loét lõm, màu trắng xám, xung quanh đỏ nhạt, nhô cao, mặt nhợt, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, lưỡi nhợt to, có răng in rõ, lớp phủ trắng mỏng, mạch trầm tế. Chứng thuộc tỳ – thận dương hư, thấp – đàm thịnh lên. Điều trị bằng cách ôn dương ích khí, kiện tỳ lợi thấp. Phương thuốc: Lý Trung Thang gia Phụ tử 6g, Trúc diệp 15g, Bạch thược 10g. Uống 3 thang, cảm thấy bụng đầy cải thiện, ăn uống tăng, viêm miệng cải thiện. Thêm Quế chi để tăng cường tác dụng ôn dương tán hàn, tiếp tục dùng 3 thang, viêm miệng lành hẳn, các triệu chứng toàn thân cải thiện rõ rệt. Dặn dùng Viên Lý Trung Thang gia Phụ tử để củng cố, duy trì một tháng, theo dõi một năm, không tái phát. Theo: Bệnh nhân này do lâu ngày tỳ không vận hóa, thấp – đàm sinh ra nội, thấp – độc thịnh lên; tỳ hư lan đến thận, tỳ – thận dương hư, dương hư lên trên, thành viêm miệng tái phát. Chu Đan Khê nói: “Viêm miệng, dùng thuốc lạnh không khỏi, do trung tiêu thổ hư, không ăn được, tướng hỏa xông lên không chế, dùng Lý Trung Thang.” Lý Thời Trân cũng nói: “Viêm miệng, dùng thuốc lạnh lâu không khỏi, dùng Lý Trung Thang gia Phụ tử ngược lại điều trị, phối hợp với quan quế.” Phương này dùng Phụ tử ôn bổ tỳ – thận, dẫn hỏa quy nguyên; toàn phương bổ khí ôn dương kiện tỳ, tán hàn giải độc, khiến thấp – đàm thịnh lên hạ xuống, viêm miệng lành.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]