Đau răng là một triệu chứng phổ biến trong lâm sàng, thường do các bệnh lý tại chỗ của răng và mô nướu gây ra. Y học cổ truyền cho rằng “răng là phần dư của xương”, “thận chủ xương”, kinh mạch của vị dương minh đi qua nướu, vì vậy mối quan hệ giữa răng với thận, nướu với vị là mật thiết nhất. Từ quan điểm toàn diện, đau răng thường liên quan đến ngoại tà xâm nhập, viêm nhiễm, rối loạn chức năng gan thận và không chú ý bảo vệ bản thân. Nói chung, đau răng cấp tính, nướu đỏ sưng thì điều trị theo dạ dày; đau răng mạn tính, răng lung lay, đau nhẹ, sưng đỏ không rõ thì điều trị theo thận. Đau răng do phong hỏa: Đau dữ dội, phát tác từng cơn, gặp gió thì phát hoặc nặng thêm, gặp lạnh thì giảm đau, gặp nóng thì tăng đau, nướu đỏ sưng, toàn thân thường có biểu hiện sợ lạnh, sốt, khát nước, mạch sốt, thường gặp ở viêm tủy răng cấp tính và viêm quanh chóp răng giai đoạn đầu. Phương pháp điều trị: khu phong thanh nhiệt, giải độc tiêu thũng, dùng phương Ngưu hoàng Tiêu đàm thang gia giảm: kim ngân hoa 18g, liên kiều 18g, bạch giới tử 10g, trúc diệp 10g, cúc giới 10g, bạch chỉ 10g, tri mẫu 10g, sinh địa 15g, tương can 10g, hoàng cầm 10g, cam thảo 6g. Đau răng do vị hỏa: Đau dữ dội, nướu và mặt đỏ sưng, hoặc chảy mủ nướu, nướu xuất huyết, đôi khi khó mở miệng, đồng thời có thể thấy đau đầu, khát nước, hôi miệng, tiểu ít, táo bón, sốt, lưỡi bẩn vàng, thường gặp ở viêm quanh chóp răng dạng mủ hóa, viêm quanh chóp răng mủ hóa. Phương pháp điều trị: thanh vị tả hỏa, lương huyết chỉ thống, dùng phương Thanh Vị Tán gia giảm: hoàng liên 10g, sinh địa 15g, đan bì 10g, thăng ma 6g, hoàng cầm 12g, sinh thạch cao 30g, liên kiều 15g, bạch chỉ 10g, tế tâm 3g, đại hoàng 6–12g. Người thể chất âm hư trước đây có thể dùng Ngọc nữ tiễn gia giảm địa cốt bì, huyền sâm. Các loại trên, thường gia giảm các vị như: công anh, tử địa đình, dã cúc hoa, hạ khô thảo, bạch tích ly, lộ phong phòng. Đau răng do hư hỏa: Răng đau âm ỉ, mức độ nhẹ, buổi chiều và ban đêm có thể nặng hơn, nướu thường không đỏ sưng, thường có biểu hiện răng lung lay, nhai vật yếu và đau tăng hoặc nướu xuất huyết. Toàn thân có thể kèm theo lưng đau, chóng mặt, miệng khô họng ráo, lưỡi đỏ, lớp lưỡi trắng, mạch tế số. Thường gặp ở bệnh viêm nướu mạn tính ở người già. Phương pháp điều trị: bổ âm ích thận, giáng hỏa chỉ thống, dùng phương Tri Bách Địa Hoàng Thang gia giảm: tri mẫu 10g, hoàng bá 10g, sinh thục địa và thục địa mỗi thứ 15g, sơn trư nhục 10g, sơn dược 30g, đan bì 10g, trạch tả 10g, cốt phấn bổ 15g, cẩu kỷ 30g, tế tâm 3g, ngưu tất 10g. Đau răng do can hỏa: Đau răng lan đến đau đầu, phát tác hoặc nặng thêm khi cảm xúc thay đổi, toàn thân thường kèm theo vị đắng trong miệng, mắt đỏ, ù tai, đau bên sườn, dễ cáu gắt, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng, mạch số mạnh. Cần thanh tả can đởm, thư can chỉ thống, dùng phương Long Đởm Tả Can Thang bỏ mộc thông, thêm hoàng liên, đan bì để điều trị. Đau răng do phong hàn: Đau răng từng cơn, phát tác hoặc nặng thêm khi gặp gió lạnh, gặp nóng thì giảm đau, nướu sưng hoặc không sưng, toàn thân có thể kèm theo sợ gió lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, nghẹt mũi, tiếng nói nặng, lưỡi nhạt, lớp lưỡi trắng. Chủ yếu gặp ở bệnh nhân viêm nướu thể chất dương hư. Phương pháp điều trị: khu phong, tán hàn, chỉ thống, dùng phương Xuyên Khung Trà Điếu Tán gia bột bối. Thuốc ngoài điều trị đau răng (Bột đau răng): Bối bột 3g, bạch chỉ 3g, lương tương 3g, tế tâm 3g, hùng hoàng 3g, bạch hồ tiêu 3g, bạc hà 1,5g, băng phiến 1,5g. Tất cả nghiền thành bột mịn, dùng cục cotton nhỏ thấm thuốc bột bịt vào hố sâu răng. Điều trị đau răng còn có thể kết hợp với liệu pháp châm cứu.
|