Có nhiều cách phân chứng phân loại tăng huyết áp nguyên phát theo Đông y, cách phổ biến nhất là kết hợp các yếu tố như tạng phủ, bát cương, nguyên nhân, bệnh cơ, tên bệnh. Hiện nay quan điểm thống nhất là căn nguyên bệnh là mất cân bằng âm dương, biểu hiện bệnh là phong nội sinh, đàm, ứ huyết. Lâm sàng chia thành bốn chứng: Can dương thượng cương, âm hư dương cương, can thận âm hư, âm dương song hư, và ba chứng đi kèm: nội phong, ứ huyết, đàm trệ. Chứng Can dương thượng cương: biểu hiện đau đầu, đầu căng, chóng mặt, ù tai, mặt đỏ, miệng đắng, lo lắng, lưỡi đỏ, mạch căng mạnh. Điều trị chủ yếu là bình can tiềm dương, thanh hỏa khử phong, dùng phương Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm: Thiên ma, Câu đằng, Sinh quyết minh, Sơn chi, Hoàng cầm, Xuyên ngưu tất, Đỗ trọng, Dạ giao藤, Tang ký sinh, Phục thần, v.v. Nếu thiên về phong thịnh, tay chân tê bại, rung giật, cơ bắp co giật, nên thêm Long cốt, Mẫu lệ, Châu châu mẫu để an can khử phong; nếu thiên về hỏa thịnh, kèm mắt đỏ, lưỡi vàng, có thể thêm Long đởm thảo, Đan bì để thanh can tả nhiệt, nếu táo bón thì có thể thêm Dưỡng can long hội hoàn để tả can thông phủ. Chứng Âm hư dương cương: ngoài các triệu chứng dương cương thông thường, còn có tim đập nhanh, hồi hộp, mất ngủ, quên, mạch huyền tế mà số, lưỡi bợt vàng, lưỡi đỏ thẫm. Điều trị chủ yếu là bổ thận dưỡng can, dùng phương Trư bạch địa hoàng hoàn gia giảm: Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Đan bì, Trạch tả, Phục linh, Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, v.v. Nếu thiên về âm tâm hư, có thể thêm Táo nhân, Quýt đỏ, Viễn chí, Nữ trinh tử để dưỡng tâm an thần. Chứng Can thận âm hư: chủ yếu biểu hiện chóng mặt, mắt mờ, lưng đau, chân yếu, năm tâm phiền nhiệt, mất ngủ, ù tai, lưỡi khô đỏ, ít lớp hoặc không lớp, mạch huyền tế. Điều trị chủ yếu là bổ thận dưỡng can, có thể dùng Đại bổ nguyên kiên gia giảm: Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Câu kỷ tử, Nhân sâm, Đương quy, Hà thủ ô, Đỗ trọng, v.v. Chứng Âm dương song hư: chủ yếu biểu hiện tay chân lạnh kèm mệt mỏi, lưng đau, đau đầu, ù tai, hồi hộp, lưỡi nhạt, lớp lưỡi trắng, mạch huyền tế. Điều trị chủ yếu là dưỡng âm trợ dương, nếu thiên về dương hư thì dùng Hữu quy hoàn gia giảm: Thục địa, Sơn dược, Câu kỷ tử, Đỗ trọng, Sơn thù, Nhục quế, Phụ tử, Thục sâm, Đương quy, Lộc giác giáp, v.v.; nếu thiên về âm hư thì dùng Tả quy hoàn gia giảm: Thục địa, Sơn dược, Sơn thù, Câu kỷ tử, Thục sâm, Lộc giác giáp, Quy bì giáp, Ngưu tất, v.v. Những chứng trên nếu kèm nội phong thì có thể thêm các vị thuốc an phong, giáng phong như Cúc hoa, Câu đằng, Long cốt, Mẫu lệ, Châu châu mẫu, v.v.; nếu kèm ứ huyết thì có thể thêm các vị thuốc hoạt huyết hóa ứ, hành khí thông lạc như Đan sâm, Xuyên khung, Đương quy, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, v.v.; nếu kèm đàm trệ thì có thể thêm các vị thuốc hóa đàm lợi khí như Đan nam tinh, Bán hạ, Trần bì, Viễn chí, Thiên trúc hoàng, Xuyên bối, v.v. Tóm lại, trong lâm sàng nên tuân theo nguyên tắc phân chứng điều trị, tùy chứng gia giảm, không được áp dụng máy móc. Trong thực tiễn lâm sàng thường gặp nhiều chứng kết hợp, do đó phân chứng dùng thuốc cần linh hoạt, đa dạng, mới có hiệu quả.
|