Sau khi được chẩn đoán xác định tại bệnh viện rằng mắc ung thư dạ dày, phải nhanh chóng tận dụng thời cơ phẫu thuật, đặc biệt là trường hợp ung thư dạ dày giai đoạn sớm sẽ hiệu quả hơn, tỷ lệ sống sót sau 3 năm là 97,8%, sau 5 năm là 90,9%, sau 10 năm là 61,9%. 1981 báo cáo tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở ung thư dạ dày giai đoạn sớm đạt 98%, gần đây có báo cáo tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở ung thư dạ dày vi mô đạt 100%, do đó, chẩn đoán sớm và phẫu thuật chính là chìa khóa để nâng cao tỷ lệ chữa khỏi ung thư dạ dày. Làm thế nào để phát hiện sớm? Những người trên 40 tuổi, chưa từng có tiền sử bệnh dạ dày nhưng xuất hiện các triệu chứng tiêu hóa giai đoạn đầu, hoặc có tiền sử loét lâu dài mà gần đây đau tăng lên hoặc thay đổi quy luật đau, tuyệt đối không nên xem nhẹ, phải đi khám kỹ lưỡng. Với những người có tổn thương tiền ung thư dạ dày như giảm tiết axit dạ dày, loét dạ dày, viêm dạ dày teo, polyp dạ dày,... cần kiểm tra định kỳ thường xuyên, điều trị sớm. Gần đây, tỷ lệ phát hiện sớm ung thư dạ dày tăng lên chủ yếu nhờ cải tiến phương pháp kiểm tra, hiện nay sử dụng nội soi điện tử, đặc điểm là đường kính nhỏ, quan sát góc rộng, độ phân giải cao, hình ảnh rõ nét. Gần đây đã có nội soi siêu âm, có thể phân biệt mức độ xâm lấn của ung thư dạ dày, thậm chí phát hiện di căn hạch ngoài dạ dày. Phẫu thuật vẫn là phương pháp hiệu quả nhất đối với ung thư dạ dày giai đoạn sớm, đa số áp dụng phẫu thuật triệt để. Sau khi cắt dạ dày, một số bệnh nhân không duy trì được cân nặng ban đầu, do tổn thương hay không thể ăn bình thường dẫn đến tiêu hao protein, chất béo trong cơ thể, khiến cân nặng giảm, đồng thời có thể mắc một số bệnh thiếu vitamin và biến chứng sau phẫu thuật cắt dạ dày. Sau khi cắt dạ dày, thường phải nhịn ăn, nhịn uống, sau 24–48 giờ nếu tình trạng ổn định, nhu động ruột phục hồi, thoát khí qua hậu môn thì mới được uống từ từ nước ấm hoặc nước đường glucose. Nếu không thấy khó chịu, ngày hôm sau có thể dùng lượng nhỏ thức ăn dạng lỏng nhạt như cháo gạo, canh rau, bột sắn loãng, nước trái cây loãng, nhưng không được ăn đường sucrose, sữa, đậu nành vì những thực phẩm này dễ gây đầy bụng. Ngày thứ tư vẫn dùng thức ăn dạng lỏng, nhưng thêm sữa đường, đậu nành đường vào. Ngày thứ năm dùng thức ăn bán lỏng ít cặn, ví dụ như cháo gạo, canh thịt băm nấu đậu phụ, súp, súp cà chua nấu mì, bánh mì, bánh ngọt, sữa, đậu nành... Ngày thứ chín chuyển sang chế độ ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, không kích thích, mềm dẻo, ăn 5 bữa mỗi ngày. Nếu sau khi ăn có cảm giác buồn nôn, đầy bụng, cần giảm hoặc ngừng ăn. Khi triệu chứng biến mất, tình trạng cải thiện, mới bắt đầu ăn lại. Chế độ ăn phục hồi sau phẫu thuật cắt dạ dày rất quan trọng, vừa phải bù đắp tổn thất do bệnh mạn tính trước phẫu thuật, vừa phải bù đắp tổn thương do phẫu thuật gây ra. Do đó, trong thời gian dài nên dùng chế độ ăn 5 bữa mỗi ngày cho bệnh dạ dày, đảm bảo đủ dinh dưỡng, giàu protein, giàu vitamin A, B, C, giúp thúc đẩy phục hồi tổn thương. Như trứng, sản phẩm từ sữa, thịt nạc, đậu phụ, đậu nành, rau tươi non và trái cây chín. Tránh ăn thực phẩm kích thích mạnh và khó tiêu như ớt, rau mùi tây, rượu, cà phê, trà đậm và các loại rau nhiều chất xơ như rau mùi tây, hành lá. Phương pháp chế biến cũng cần chú ý, không nên dùng cách chiên, xào, hun khói hay trộn sống vì dễ gây khó tiêu, nên dùng cách hấp, nấu, hầm, kho. Bệnh nhân phải chờ vết thương phẫu thuật và cơ thể suy kiệt hoàn toàn hồi phục mới dần chuyển sang chế độ ăn thông thường. Vì sau khi cắt dạ dày, dung tích dạ dày giảm rõ rệt, ảnh hưởng đến việc hấp thu chất dinh dưỡng, nên trong khẩu phần hàng ngày cần tăng lượng thực phẩm giàu vitamin D như nội tạng động vật, củ cà rốt,... để phòng ngừa bệnh xương mềm sau phẫu thuật. Ngoài ra, sau khi ăn không nên vội vàng vận động, phải nằm nghỉ, tránh ăn đồ ngọt cao để phòng ngừa hội chứng đổ tràn. Sau phẫu thuật cắt dạ dày, biến chứng phổ biến nhất là thiếu máu thiếu sắt, thiếu vitamin nhóm B. Có khoảng 15% bệnh nhân bị bệnh xương mềm do thiếu vitamin D, dễ làm xương trở nên rất mỏng. Ở một số bệnh nhân không có biểu hiện thiếu vitamin D rõ ràng, các thay đổi tổ chức xương sớm có thể được khắc phục. Điều này khiến việc suy luận về mối liên hệ giữa loãng xương, xương mềm sau phẫu thuật cắt dạ dày với thiếu vitamin D, hấp thu canxi trở nên khó khăn. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, các bệnh nhân này đều có rối loạn hấp thu canxi rõ rệt và thiếu vitamin D. Người sau phẫu thuật cắt dạ dày cần chú ý bổ sung canxi và vitamin D trong chế độ ăn, điều này có lợi cho quá trình khoáng hóa xương. Thực phẩm động vật như lòng đỏ trứng, gan chứa hàm lượng retinol rất cao. Một số thực phẩm thực vật như rau củ màu vàng, đỏ, trái cây chứa β-caroten, có thể chuyển hóa thành vitamin A trong gan. Thực phẩm giàu canxi gồm các sản phẩm từ đậu, sữa, yến mạch, bắp cải, cải thảo, củ cà rốt, rau mùi tây, bí ngô, củ cải, rau chân vịt, bầu, hành lá, cỏ mật, bí đao, v.v. Một số hạt cứng và hạt giống cũng giàu canxi như hạnh nhân khô, óc chó, hạt dẻ, hạt hướng dương, v.v. Trái cây như cam cũng giàu canxi. Một số rau như rau chân vịt, rau muống, rau đay chứa oxalat ảnh hưởng đến hấp thu canxi, nên với các loại rau có hàm lượng oxalat cao, nên luộc sơ qua nước sôi để oxalat tan một phần vào nước, vắt bỏ nước rồi mới xào nấu. Lưu ý khi thêm chất tạo men vào bột mì, bột ngô, bột đậu, kéo dài thời gian lên men để thủy phân phytate, giải phóng canxi, giúp canxi dễ hấp thu hơn. Khi bệnh nhân có thể ăn sau phẫu thuật, nên bắt đầu bằng chế độ ăn sau phẫu thuật dạ dày 6 bữa mỗi ngày, sau đó chuyển dần sang chế độ ăn 5 bữa mỗi ngày cho bệnh dạ dày khi tình trạng dần hồi phục.
|