Cảm giác bất thường ở lưỡi là cảm giác tự thân bất thường của lưỡi, bao gồm cảm giác hóa học (như đắng, ngọt, mặn...) và cảm giác vật lý (như đau, lạnh, dính...). Y học cổ truyền Trung Hoa chủ yếu bao gồm thay đổi vị giác lưỡi và các cảm giác bất thường như lạnh, nóng, đau, ngứa ở lưỡi. Việc chẩn đoán bệnh dựa trên cảm giác bất thường ở lưỡi có ý nghĩa quan trọng trong hướng dẫn lâm sàng. Tôi đã từng điều trị nhiều trường hợp gan nhiễm mỡ dựa trên cảm giác bất thường ở lưỡi, có một vài kinh nghiệm. I. Lưỡi đắng Tự cảm thấy vị đắng ở lưỡi, tổng cộng 36 trường hợp, đều là người có lipid máu cao và siêu âm xác nhận gan nhiễm mỡ. Lâm sàng thường có đầy bụng, đau sườn, chóng mặt ù tai, hoặc táo bón, miệng khô, lưỡi trắng bết hoặc vàng bết, mạch dây hoạt, nhưng phần lớn chỉ có miệng đắng, táo bón, các triệu chứng khác không rõ. Vì đắng là vị của đởm, liên quan đến chức năng thải tiết của can; đắng thuộc hỏa, hỏa thịnh thì miệng đắng.《Tố Vấn·Phi Luận》:"Can khí nhiệt, đởm tiết, miệng đắng...",《Linh Quang·Trướng Luận》:"Đởm trướng giả, sườn dưới đau, đầy, miệng đắng." Điều trị nên thanh lợi can đởm, thư can giải uất, dùng Long Đởm Tả Can Thang gia giảm: Sắc thảo, đương quy, trạch tả, hoàng cầm, chi tử, thảo quyết minh, đại hoàng, bạch thược, uất kim, xuyên khuông tử, công anh, bại giang thảo, sơn tra, lai phục tử. Sau khi dùng thuốc, các trường hợp này cải thiện nhẹ, sau 2–4 tháng điều trị đều khỏi. II. Lưỡi ngọt Tự cảm thấy vị ngọt ở lưỡi, tổng cộng 29 trường hợp, đều được xác nhận bằng xét nghiệm lipid máu và siêu âm. Lâm sàng thường có đầy bụng, đau, không muốn ăn, buồn nôn, mặt vàng nhợt, hoặc đi ngoài không thoải mái, mệt mỏi, lưỡi trắng bết hoặc dày, mạch chậm hoặc nhão, nhưng cũng có trường hợp triệu chứng không rõ, chỉ cảm thấy vị ngọt ở lưỡi. Vị ngọt ở lưỡi thường do thấp uế lên, liên quan chặt chẽ đến tỳ. Tỳ thích khô, ghét ẩm, ẩm dễ làm tổn thương tỳ, khí cơ bị chặn, lipid không được chuyển hóa bình thường, tích tụ trong máu thành đàm, huyết ứ, bí tắc ở can, gây gan nhiễm mỡ. Điều trị nên thơm hóa thấp, dùng phương pháp Tam Nhân Thang, Nhân Trần Hao Thang gia giảm: Tinh nhân, ích nhân, bạch khấu nhân, hậu bối, bán hạ, vân linh, bạc hương, nhân trần, hoạt thạch, đại hoàng, đương quy, thảo quyết minh, uất kim, xích thược, thông thảo, đậu quyển, hoắc hương. Thời gian điều trị 2–3 tháng, đều khỏi. III. Lưỡi nhạt Tự cảm thấy mất vị, tức là giảm cảm giác vị giác, hoặc cảm giác vị giác chậm, không nhạy, thường liên quan đến tỳ vị không khỏe.《Linh Quang·Mạch Độ》:"Tỳ khí thông với miệng, tỳ hòa thì miệng biết ngũ cốc."《Y học Lâm Trị Bị Y·Cửu Luyện Tật Trạng》nói: "Miệng nhạt không vị, ăn không ngon." Lâm sàng thường thấy đầy bụng, ăn không ngon, hoặc nôn, hoặc tiêu chảy, tứ chi mệt mỏi, ợ hơi, lưỡi trắng hoặc bết, mạch chậm hoặc yếu, tổng cộng 31 trường hợp, đều được xác nhận bằng xét nghiệm lipid máu và siêu âm. Điều trị nên kiện tỳ ích khí, dùng phương pháp Tham Lăng Bạch Truật Thang, Dị Công Thang gia giảm: Đảng sâm, phục linh, bạch truật, trần bì, sơn dược, bá đậu, ích nhân, sơn tra, mộc hương, đương quy, thảo quyết minh, sơn tra, lai phục tử, tri thực, hà diệp. Sau 2–4 tháng điều trị, 27 trường hợp khỏi, 4 trường hợp cải thiện. IV. Lưỡi chua Tự cảm thấy vị chua ở lưỡi và miệng, nhưng không có nước chua trào ra, tổng cộng 18 trường hợp, đều được xác nhận bằng xét nghiệm lipid máu và siêu âm. Thường do tỳ vận hóa rối loạn, thực tích không tiêu, hoặc ăn quá nhiều tổn thương tỳ, thực tích tích tụ trong ruột, can tỳ bất hòa, uế khí lên. Dư Toàn《Y Học Chính Truyền》nói: "Cũng có tỳ vị khí yếu, mộc thừa thổ vị mà miệng chua." Can vị bất hòa, khí trệ thấp trệ, đàm dừng huyết ứ, bí tắc mạch can, nên thấy đau bụng, sườn đầy, buồn nôn, ợ chua, đại tiện không điều, hoặc đau bụng đi ngoài phân thối, lưỡi dày bết hoặc vàng, mạch dây hoạt hoặc trầm thực. Điều trị nên phá tích dẫn trệ, hành khí tiêu痞, dùng phương pháp Tri Thực Dẫn Trệ Hoàn, Mộc Hương Bính Lang Hoàn gia giảm: Đại hoàng, tri thực, thần khúc, mai ya, sơn tra, vân linh, mộc hương, bính lang, trần bì, hoàng cầm, trạch tả, hoàng liên, oải hương, tam lăng, sơn tra, đương quy, thảo quyết minh, hà diệp, hương phụ, uất kim. Điều trị 1–3 tháng đều khỏi. V. Lưỡi mặn Tự cảm thấy vị mặn ở lưỡi, thậm chí có thể nhổ ra đàm mặn, tổng cộng 23 trường hợp. Vị mặn vào thận, nói chung, lưỡi mặn thường liên quan đến thận hư hoặc thủy tà ngược lên. Như《Thông Dụ Thương Hàn Luận》nói: "Miệng mặn nhổ ra bọt trắng là thủy tà ngược lên";《Trương Thị Y Thông》cho rằng: "Miệng mặn, thận dịch ngược lên". Miệng mặn cũng liên quan đến thất tình, ngũ vị quá mức: "Miệng nhiều bệnh... hoặc thấy vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn, nguyên nhân gốc rễ, chưa có gì không do thất tình rối loạn, ngũ vị quá mức gây ra" (《Y Học Chính Truyền·Khẩu Bệnh》). Gan nhiễm mỡ thường xảy ra ở trung niên và tiền lão niên, lúc này thường ở trạng thái sinh lý thận hư, hoặc do làm việc quá sức, sống không điều độ, chức năng tạng phủ bị tổn thương, lâu ngày ảnh hưởng đến thận. Thận tinh hư tổn, âm dương mất cân bằng, thủy không dung mộc, ôn thổ, lipid không được chuyển hóa bình thường, hình thành tăng lipid máu, bí tắc ở can. Thường thấy lưng gối mỏi, mất ngủ quên, ù tai, đau sườn bụng, nếu thận dương hư thấy sợ lạnh, tay chân lạnh, di tinh sớm xuất, ham muốn tình dục giảm, hoặc phù mặt, phù chân. Điều trị nên ôn dương bổ thận, dùng phương pháp Hữu Quy Hoàn gia giảm: Thục địa, túc tư tử, đỗ trọng, nhục quế, chế phụ tử, sơn dược, câu kỷ tử, sơn thù nhục, chế thục đầu, hương phụ, tri thực, sơn tra, hà diệp, tàng ký sinh, nữ trinh tử, lộc giác giáp. Nếu thận âm hư thấy tâm phiền mất ngủ, nóng trong người, ra mồ hôi trộm, miệng khô, họng khô, lưỡi đỏ ít rêu, mạch细 hoặc số, điều trị nên bổ thận âm, dùng phương pháp Tả Quy Hoàn gia giảm: Thục địa, đan bì, sơn thù nhục, sơn dược, trạch tả, sơn tra, qui giáp, túc tư tử, nữ trinh tử, hạn liên thảo, thiên đông, lai phục tử, đương quy, tri thực, hà diệp. Tất cả các trường hợp trên đều khỏi sau 2–4 tháng. VI. Lưỡi cay Tự cảm thấy vị cay ở lưỡi, hoặc cay, hoặc tanh, lâm sàng hiếm gặp, điều trị 4 trường hợp, đều được xác nhận bằng xét nghiệm lipid máu và siêu âm. Chủ yếu do tâm đởm bất an, khí hỏa vô hình kèm đàm thấp, phù hợp với cơ chế bệnh lý gan nhiễm mỡ.《Thông Dụ Thương Hàn Luận》nói: "Miệng cay, phế nhiệt nhập vị"; Chu Đan Hi nói: "Phế nhiệt miệng cay, nên dùng Cam Cúc Thang, Tả Bạch Tán". Lâm sàng thấy đầy bụng, ngực bí, thở ngắn, hoặc đàm đọng, không nằm được, thậm chí mặt phù, đại tiện không thực, lưỡi đỏ, rêu mỏng bết, mạch dây hoạt. Điều trị nên tả phế thanh nhiệt, thư can hòa vị, dùng phương pháp Tả Bạch Tán, Sách Hồ Thư Can Thang gia giảm: Hoàng cầm, bán hạ, tang bạch bì, địa cốt bì, trần bì, lai phục tử, bạch giới tử, hương phụ, uất kim, xuyên khuông tử, thảo quyết minh, trạch tả, sơn tra. Bốn trường hợp này đều khỏi trong 1–3 tháng. VII. Lưỡi nóng rát đau Cảm giác như bị đốt ở lưỡi, điều trị 6 trường hợp, thường do hỏa tà nội thịnh. Thường xuất hiện cùng với đầu lưỡi đỏ, miệng lưỡi loét, bệnh gan nhiễm mỡ do rượu thường có loại cảm giác này. Thường kèm theo ngực bụng nóng, buồn nôn, ăn ít, táo bón, mắt đỏ, đầu choáng, lưỡi đỏ ít rêu hoặc khô, mạch dây tinh hoặc hồng đại. Điều trị nên thanh nhiệt giải độc, thư can tả phế, dùng phương pháp Bạch Hổ Thang, Lương Cách Thang gia giảm: Sinh thạch cao, tri mẫu, sinh địa, bạch thược, đại hoàng, chi tử, trạch tả, xích thược, đan bì. Điều chỉnh theo tiến triển, trong đó 5 trường hợp khỏi sau 2 tháng, 1 trường hợp cải thiện sau 3 tháng. VIII. Lưỡi tê Chỉ cảm giác tê ở lưỡi, cảm giác giảm, thậm chí dù cào, đâm, cào lưỡi, cảm giác tê vẫn không hết, tổng cộng điều trị 7 trường hợp. Lưỡi tê thường do huyết hư, can phong, đàm trệ,《Biện Thiếu Chỉ Nam》nói: "Lưỡi tê là do huyết hư. Tê mà không thể đưa ra, là nội phong kèm đàm... đều nên mềm nhuận, bổ huyết, bình phong. Kèm đàm thì nên hóa đàm, tuyên đàm". Nếu gan nhiễm mỡ kèm huyết hư, do tâm trạng lo âu, ưu tư giận dữ, âm huyết âm thầm bị tổn hại, thường thấy chóng mặt, mắt mờ, tim đập nhanh, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, mặt vàng, lưỡi trắng mỏng, lưỡi nhạt hoặc có răng cắn, mạch tinh hoặc tinh số. Điều trị nên dưỡng huyết thông lạc, dùng phương pháp Tứ Vật Thang, Nhị Chí Hoàn gia giảm: Thục địa, đương quy, bạch thược, xuyên khung, nữ trinh tử, hạn liên thảo, chế thục đầu, thảo quyết minh, tri thực, trạch tả, sơn thù nhục, sơn tra. Nếu kèm đàm, mệt mỏi, mệt mỏi, đầy bụng, buồn nôn, ngủ ít, lưỡi trắng bết, mạch dây hoạt. Điều trị nên hóa đàm giải uất, dùng phương pháp Tiêu Dao Tán, Ô Dương Thang gia giảm: Sắc thảo, đương quy, vân linh, bạch truật, uất kim, bán hạ, trúc nhũ, tri thực, trần bì, hoàng cầm, lai phục tử, bạch giới tử, sơn tra, đại hoàng, hương phụ, thảo quyết minh, bính lang. IX. Lưỡi sưng Tự cảm thấy lưỡi sưng, nhưng chưa chắc đã thấy lưỡi to, điều trị 9 trường hợp. Người bệnh gan nhiễm mỡ thường có can uất khí trệ, lâu ngày hóa hỏa, mộc hỏa thượng viêm, nên có cảm giác lưỡi sưng. Thường kèm theo mất ngủ, tim đập nhanh, ngực sườn đầy, hoặc sườn dưới cứng, ợ hơi thường xuyên, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch dây mạnh. Điều trị nên thư can lý khí, thanh nhiệt giải kết, dùng phương pháp Đại Sái Hồ Thang, Sách Hồ Thư Can Thang gia giảm: Sắc thảo, hoàng cầm, bạch thược, bán hạ, tri thực, đại hoàng, hương phụ, uất kim, xuyên khung, trần bì, hoàng liên, liên kiều, lai phục tử, thảo quyết minh, sơn tra. Tất cả 9 trường hợp này đều khỏi trong 1–4 tháng. X. Lưỡi khô Chỉ cảm giác như ăn quả mâm xôi sống, thường xuất hiện cùng với lưỡi khô, chủ yếu do nhiệt tổn thương tân dịch. Tổng cộng điều trị 14 trường hợp. Nội tạng dương nhiệt thịnh, khí hỏa lên, hoặc nhiệt tổn thương tân dịch, khiến lưỡi khô. Trần Vô Trạch《Tam Nhân Phương·Khẩu Bệnh Chứng Trị Biên》nói: "Phiền, táo thì khô"; nhà y học đời Thanh Đường Dung Xuyên《Huyết Chứng Luận·Khẩu Thiếu》chỉ ra: "Lưỡi khô là phong nhiệt, dùng Thống Thánh Tán bỏ mạn tiêu, đại hoàng điều trị". Gan nhiễm mỡ thấy lưỡi khô liên quan đến thận hư mất cân bằng, chức năng chủ nước và khí hóa bị rối loạn. Lúc này thủy không dung mộc, tỳ không vận hóa, tân dịch không được phân bố, đàm thấp, huyết ứ bí tắc mạch huyết. Thường thấy miệng khô, họng khô, đau sườn, buổi chiều nóng, hoặc ù tai, đi ngoài táo bón, lưỡi đỏ ít rêu hoặc trung tâm bong tróc, hình như bản đồ, mạch tinh hoặc dây. Điều trị nên bổ âm nhuận khô, hóa đàm giải uất, dùng phương pháp Tăng Dịch Thang, Tiêu Dao Tán gia giảm: Huyền sâm, sinh địa, mạch đông, thạch cao, bắc sâm, đương quy, bạch thược, sắc thảo, chi tử, thiên đông, trần bì, hương phụ, uất kim, thảo quyết minh, hà diệp, trúc diệp. Tất cả các trường hợp trên đều cải thiện hoặc khỏi trong 1–4 tháng.
|