Bệnh phổi khí phế giãn Bệnh phổi khí phế giãn là tình trạng phổi bị khí quá mức, phần cuối của tiểu phế quản (bao gồm phế quản hô hấp, ống phế quản phổi, túi phế quản và phế nang) bị giãn nở hoặc vỡ, dẫn đến suy giảm chức năng phổi, gây ra một bệnh phổi tắc nghẽn, thường xảy ra do viêm phế quản mạn tính, hen phế quản và xơ phổi. Bệnh phổi khí phế giãn diễn tiến chậm, thường khởi đầu bằng ho, khạc đàm, dần dần xuất hiện khó thở, thở dài, hít ngắn, và tiến triển ngày càng nặng, thậm chí mất khả năng lao động. Các phương pháp kinh nghiệm lâm sàng hiệu quả chính như sau. [Phương án 1] Xoài đỏ 10 gram, bột gạo 500 gram, đường trắng 200 gram. Xoài đỏ nghiền thành bột mịn, trộn đều với đường trắng làm nhân; bột gạo ướt nhẹ bằng một ít nước, đặt trên khăn hấp trong nồi hấp, hấp chín; để nguội, cán chặt, cắt thành miếng bánh gạo vuông, ăn tùy ý theo nhu cầu. Phương pháp này giúp trừ thấp, hóa đàm, lý khí kiện tỳ, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do đàm thấp chặn phổi. Loại phổi khí phế giãn này có triệu chứng thở khò khè, ngực đầy tức, thậm chí phải nằm ngửa để thở, ho đàm dính, màu trắng, khạc khó, kèm theo buồn nôn, kém ăn, miệng nhớt không khát, lưỡi trắng dày, mạch trơn. [Phương án 2] Thạch cao sống 30 gram, hạnh nhân nghiền 10 gram, hạt bầu 20 gram, lá trúc tươi 10 gram, nước trúc 20–30 gram. Cho thạch cao sống, hạnh nhân nghiền, hạt bầu, lá trúc tươi (rửa sạch) vào nồi đất sắc lấy nước, bỏ bã, sau đó chia làm vài lần trộn nước trúc, uống mỗi ngày hai lần. Phương pháp này giúp thanh phế nhiệt, hóa đàm giáng nghịch, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do đàm nhiệt kết tụ ở phổi. Đặc điểm của loại phổi khí phế giãn này là ho, thở khò khè, ngực căng đau, đàm đặc, màu vàng hoặc có máu, ngực nóng, sốt, ra mồ hôi, khát nước lạnh, mặt đỏ, họng khô, tiểu đỏ, lưỡi vàng hoặc nhờn, mạch trơn số. [Phương án 3] Huang kỳ 30 gram, Bạch truật 20 gram, Bạch linh 30 gram, chim bồ câu sữa 1 con. Chim bồ câu sữa (chim non chưa mọc lông) ngâm nước cho chết, lột lông và ruột, cho vào nồi đun, thêm nước vừa đủ, cho Huang kỳ, Bạch truật, Bạch linh (rửa sạch), đặt vào nồi hấp cách thủy, hấp chín, thêm một chút muối và gia vị. Ăn vào bữa chính, mỗi ngày một lần. Phương pháp này bổ phổi,止 suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do phổi hư. Đặc điểm của loại phổi khí phế giãn này là thở khò khè, hơi ngắn, không đủ sức, giọng nói yếu, lưỡi trắng trơn hoặc nhờn, mạch细 mềm. [Phương án 4] Đảng sâm 10 gram, Huang kỳ 9 gram, Bạch truật 12 gram, Bạch linh 10 gram, Cam thảo, Ban hạ mỗi thứ 6 gram, Trần bì 12 gram, Tô tử, La bộc tử mỗi thứ 9 gram, Bạch giới tử 12 gram, Đại táo 10 quả. Lấy Đại táo, Trần bì ra ngoài, các vị thuốc còn lại sắc lấy nước, bỏ bã, nấu lại Đại táo và Trần bì, đun sôi 10 phút, ăn Đại táo, uống nước, bỏ Trần bì. Phương pháp này kiện tỳ ích khí, hóa đàm bình suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do tỳ hư. Đặc điểm chính của loại phổi khí phế giãn này là thở khò khè, hơi ngắn, không đủ sức, nói năng yếu, đàm nhiều, chất loãng, tứ chi mệt mỏi, ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, lưỡi trắng trơn hoặc mỏng nhờn, mạch tế mềm. [Phương án 5] Quả hạnh nhân 50 gram, bột củ cải, đường băng mỗi thứ 10 gram. Đầu tiên nấu chảy đường băng, sau đó thêm các vị thuốc trên trộn đều, làm thành viên đường, mỗi ngày nuốt từng viên. Phương pháp này bổ thận bình suyễn, phù hợp với chứng suyễn lâu ngày do thận hư. Loại phổi khí phế giãn này là ho, suyễn kéo dài, hơi ngắn khó nối tiếp, vận động nặng hơn, đàm ra kèm theo đau lưng, gối, mạch mảnh. [Phương án 6] Đen Tô tử, Trần bì, Ban hạ, Đương quy, Bổ thố mỗi thứ 9 gram, trầm hương bột (rót vào), Nhục quế mỗi thứ 2,5 gram, Tiền hồ, Hạnh nhân mỗi thứ 9 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này trừ tà giảm khí, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn. [Phương án 7] Hoàng cầm, Qua lâu nhân, Ban hạ, Đan tinh, Trần bì, Hạnh nhân nghiền, Chi thực, Giang trúc nhục mỗi thứ 9 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, uống sáng và tối. Phương pháp này thanh phổi hóa đàm, dùng cho bệnh phổi khí phế giãn do đàm nhiệt. [Phương án 8] Sâm thạch 12 gram, Mai đông, Ngũ vị tử, Hạnh nhân, Ngọc trúc, Bách bộ mỗi thứ 9 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này bổ khí sinh tân, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do khí tân tổn thương. [Phương án 9] Sinh địa, Sơn thù nhục, Ngũ vị tử mỗi thứ 9 gram, Nhục quế 2,5 gram, Bổ cốt tư, Hồ đào nhục mỗi thứ 9 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, hai lần uống. Phương pháp này bổ thận nạp khí, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do thận suy. [Phương án 10] Tô tử 10 gram, Bạch giới tử 9 gram, La bộc tử 10 gram, Sơn dược 60 gram, Nhân sâm 30 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, hai lần uống. Phương pháp này bổ chính trừ tà, giáng khí hóa đàm, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do đàm đọng. [Phương án 11] La bộc tử tùy ý, gạo tẻ 2 lượng. Nghiền La bộc tử đã rang thành bột, mỗi lần lấy 10–15 gram, cùng gạo tẻ nấu thành cháo. Phương pháp này hóa đàm bình suyễn, hành khí tiêu thực. Phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn có triệu chứng ho nhiều đàm, ngực đầy tức, khó thở, ăn không ngon, ợ chua, đầy bụng. [Phương án 12] Gạo tẻ 60 gram, xuyên bối 5–10 gram, đường cát适量. Trước tiên nấu gạo tẻ 60 gram và đường cát适量 thành cháo, khi cháo gần chín, thêm bột xuyên bối cực mịn 5–10 gram, đun thêm hai ba lần sôi là được. Ăn nóng. Lợi phổi, dưỡng vị, hóa đàm,止 ho. Dùng cho các chứng như viêm phế quản mạn tính ở người già, phổi khí phế giãn, ho, suyễn. [Phương án 13] Xạ can 10 gram, Ma hoàng, Bạch giới tử, La bộc tử mỗi thứ 9 gram, Tô tử 10 gram, Tả cật 12 gram, Huyền phục hoa, Tử thảo, Khẩu đông hoa mỗi thứ 10 gram, Ban hạ, Hạnh nhân mỗi thứ 9 gram. Nếu cảm ngoại tà phong hàn, đàm hóa theo hàn, hàn nặng hơn đàm, ho nặng hơn suyễn, thêm Quế chi, Tế tâm, Can khương, Ngũ vị tử, Bạch thược, Cam thảo; nếu đàm nặng hơn hàn, kèm theo nhiệt uất, suyễn nặng hơn ho, thêm Bổ thố, Thạch cao, Tế tâm, Can khương, Ngũ vị tử; nếu đàm hàn đều nặng, ho và suyễn đều nặng, thêm Sinh khương, Tế tâm, Ngũ vị tử, Đại táo; nếu cảm ngoại tà phong nhiệt, đàm hóa theo nhiệt, nhiệt nặng hơn đàm, thêm Thạch cao, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo; nếu đàm nặng hơn nhiệt, thêm Tế tâm, Can khương, Ngũ vị tử, Bạch thược, Thạch cao; nếu đàm nhiệt đều nặng, thêm Bổ thố, Thạch cao. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này giáng khí hóa đàm,止 ho bình suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do đàm trọc chặn phổi, các triệu chứng lâm sàng chính như: suyễn, ngực đầy tức, thậm chí phải nằm ngửa để thở, ho đàm dính, màu trắng, khạc khó, kèm theo buồn nôn, kém ăn, miệng nhớt không khát, lưỡi trắng dày, mạch trơn. [Phương án 14] Hoàng cầm, Tang bạch bì, Toàn sầu mễ mỗi thứ 10 gram, Hạnh nhân, Ban hạ mỗi thứ 9 gram, Khẩu đông 12 gram, Tô tử, Bách bộ, Hoàng liên, Sơn chi mỗi thứ 9 gram. Nếu đàm nhiều, đặc, thêm Hạ lưu, Xạ can, Hải hà bột; nếu đàm trào, táo bón, suyễn không nằm được, thêm Đại hoàng, Phong hóa tiêu, Đình lực tử; nếu sốt cao thêm Sinh thạch cao, Tri mẫu; nếu khát nước, họng khô, thêm Thiên hoa phấn, Mai đông; nếu khạc đàm có mùi hôi, phối hợp với Ngư tinh thảo, Đông qua tử. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này thanh tả đàm nhiệt, giáng khí suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do đàm nhiệt kết tụ ở phổi, các triệu chứng lâm sàng chính như: ho, suyễn, khí trào, ngực căng đau, đàm đặc, màu vàng hoặc có máu, ngực nóng, sốt, ra mồ hôi, khát nước lạnh, mặt đỏ, họng khô, tiểu đỏ, lưỡi vàng hoặc nhờn, mạch trơn số. [Phương án 15] Đảng sâm 9 gram, Huang kỳ 10 gram, Sâm thạch, Mai đông mỗi thứ 9 gram, Sinh địa 10 gram, Ngũ vị tử, Tang bạch bì, Tử thảo mỗi thứ 12 gram. Nếu ngắn hơi, suyễn rõ rệt, thêm Đông trùng hạ thảo, Chung nhự, Cam thảo; nếu suyễn ngược, ho đàm loãng, bỏ Tang bạch bì, thêm Khẩu đông, Chung nhự; nếu sợ gió, ra mồ hôi rõ, thêm Bạch truật, Phòng phong; nếu vận động nặng thì suyễn nặng, thêm Sơn thù nhục, Hồ đào nhục; nếu ăn ít, đại tiện lỏng, bụng trướng, thêm Thăng ma, Sắc hồ, đồng thời tăng liều Huang kỳ, Đảng sâm; nếu ho khạc, nóng, lưỡi đỏ, ít rêu, thêm Ngọc trúc, Bách hợp, Thạch hộc, Hề tử. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này ích khí dưỡng âm, thư phổi bình suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do phổi hư, biểu hiện lâm sàng chính như: suyễn, ngắn hơi, khí yếu, tiếng nói thấp, ho yếu, đàm loãng, màu trắng, ra mồ hôi, sợ gió, hay bị cảm lạnh, lưỡi hồng nhạt, mạch tế yếu; nếu ho khạc đàm ít, đặc, nóng, khát, họng khó chịu, mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế số. [Phương án 15] Đảng sâm 10 gram, Huang kỳ, Bạch truật mỗi thứ 9 gram, Bạch linh 12 gram, Cam thảo, Trần bì mỗi thứ 9 gram, Ban hạ 6 gram. Nếu đàm nhiều, đặc, khạc không dễ, đầy bụng, rêu lưỡi nhờn, thêm Xuyên bối, Thương thuật; nếu đại tiện dễ lỏng, thêm Hoài sơn, Ý dĩ nhân, Uyển mộc hương, Sa nhân, hoặc thường xuyên dùng Viên Hương sa lục quân, Kiện tỳ hoàn, Lý trung hoàn v.v.; nếu tứ chi lạnh, lạnh lẽo, nằm co, thêm Phụ tử, Nhục quế, Hồ đào nhục, Tử Hà xa, cũng có thể dùng Viên Kim quý thận khí hoàn. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này kiện tỳ ích khí, hóa đàm bình suyễn, phù hợp với bệnh phổi khí phế giãn do tỳ hư, các triệu chứng lâm sàng chính như: ho, suyễn kéo dài, hơi ngắn khó nối tiếp, vận động nặng hơn, đàm ra bọt, chóng mặt, tai ù, đau lưng, gối, kèm theo lạnh, tay chân lạnh, ra mồ hôi, mặt xanh môi tím, lưỡi trắng hoặc ẩm đen, mạch mảnh, yếu hoặc trầm yếu; hoặc mặt đỏ bồn chồn, miệng khô, mồ hôi dính tay, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế số. [Phương án 16] Sinh địa 10 gram, Sơn thù nhục 12 gram, Sơn dược 15 gram, Tử Hà xa 6 gram, Hồ đào nhục, Bổ cốt tư mỗi thứ 9 gram, Lộc giác phiến 6 gram, Nhục quế 9 gram, Phụ tử 6 gram, Ngũ vị tử 9 gram. Nếu thở ra nhiều, hít vào ít, thêm Tử thạch anh, Trần hương, Từ thạch, Ngũ vị tử, Đông trùng hạ thảo; nếu suyễn nặng, uống thêm Viên tham hà; nếu ho khạc đàm đặc, thêm Tô tử, Ban hạ, Bạch linh, Trần bì; nếu suyễn, ho, chóng mặt, phù chân tay, tiểu ít, thêm Bạch linh, Bạch truật, Bạch thược; nếu mặt đỏ như vẽ, bồn chồn, thêm Long cốt, Mẫu lệ, thường xuyên dùng Bột Tử Hà xa, Viên Kim quý thận khí hoàn hoặc Lục vị địa hoàng hoàn; nếu mặt đỏ bồn chồn, lưỡi đỏ, rêu ít, thêm Mai đông, Đương quy, Quy bản giao. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này bổ thận nạp khí bình suyễn, dùng cho bệnh phổi khí phế giãn do thận hư, các triệu chứng lâm sàng chính như: ho nghịch, ngắn hơi, đàm nhiều, phù chân mặt, thể hình gầy, mạch tế yếu, lưỡi nhạt. [Phương án 17] Ngũ vị tử 250 gram, trứng gà 10 quả. Đun nước ngũ vị tử nửa giờ, để nguội, cho trứng vào ngâm 10 ngày, mỗi sáng lấy một quả, pha với nước đường hoặc rượu nóng mà uống. Phương pháp này phù hợp với chứng phổi khí phế giãn. <điều trị phổi khí phế giãn>
|