Hen suyễn Bệnh này là một bệnh hệ phổi đặc trưng bởi các cơn thở khò khè, khó thở kéo dài. Bệnh có tỷ lệ mắc cao vào hai mùa xuân và thu, thường tái phát, thường bị kích thích bởi sự thay đổi thời tiết đột ngột, phổ biến nhất vào ban đêm và sáng sớm, thường kéo dài khó khỏi. Thời gian bệnh càng dài, ảnh hưởng đến cơ thể người bệnh càng lớn. Các phương pháp dân gian, bài thuốc hiệu nghiệm thường dùng trong lâm sàng như sau. [Phương án 1] Nửa quả quả La hán, 2–3 quả bánh bao, một ít đường băng. Rửa sạch quả La hán, cùng với bánh bao cho vào hai chén nước, sắc còn một chén rưỡi, thêm một ít đường băng để nếm, bỏ bã. Uống mỗi ngày chia làm ba lần. Phương pháp này thanh nhiệt, trừ đàm hỏa,止 ho, bình suyễn. [Phương án 2] Chỉ xác, sinh minh cao, trần hồng trà 30 gram, hạnh nhân 20 gram, tiền hồ 15 gram, sinh cam thảo 10 gram, quả lê 6 quả, khúc dưa cải 100 gram, đường băng 150 gram, một lượng nhỏ bột bạch phàn. Trước tiên sắc sinh thạch cao, hạnh nhân, tiền hồ, cam thảo lấy một chén nước, để riêng; cắt khúc dưa cải thành hạt đậu, nghiền chỉ xác, nghiền trần hồng thành bột, lê gọt vỏ, nghiền nhuyễn trộn với nước bạch phàn, cho vào khúc dưa, đường băng, chỉ xác, bột trần hồng, đổ nước thuốc vào, trộn đều, cho vào một cái bát lớn, đun cách thủy khoảng 50 phút, thành dạng hồ đặc là được, chia nhỏ ăn. Phương pháp này thanh nhiệt,止 ho, bình suyễn, phù hợp với hen suyễn do nhiệt. [Phương án 3] Giun đất 100 gram, Tang bạch bì 150 gram. Giun đất rang đến màu vàng cháy, nghiền thành bột, mỗi lần uống 5 gram, mỗi ngày hai lần, kiêng ăn đồ cay. Phương pháp này phù hợp với người bị hen suyễn có đàm vàng, dính. [Phương án 4] Mint 15 gram, trần bì, tía tô mỗi thứ 10 gram. Sắc nước uống, mỗi ngày hai lần; Phương pháp này phù hợp với ho, suyễn do cảm phong hàn. [Phương án 5] Hạnh nhân, Huyền phục hoa, Khẩu đông hoa mỗi thứ 10 gram, gạo tẻ 50 gram. Ba vị trên sắc nước, bỏ bã, cho gạo vào nấu cháo, ăn lúc đói. [Phương án 6] Can khương 30 gram, đậu tương nhạt 15 gram, đường mạch nha 250 gram, một lượng nhỏ dầu thực vật. Can khương, đậu tương nhạt cho vào nồi, thêm nước vừa đủ, đun nhỏ lửa, mỗi 30 phút lấy nước một lần, lấy hai lần, hòa lại, đun nhỏ lửa đến đặc, thêm đường mạch nha trộn đều, tiếp tục đun đến khi kéo sợi đường là tắt lửa, đổ vào khay men đã bôi dầu thực vật, dàn phẳng, để nguội một chút cắt thành miếng nhỏ. Mỗi lần ăn ba miếng, mỗi ngày ba lần. Phương pháp này phù hợp với chứng ho, suyễn do phổi hàn. [Phương án 7] Đường bột vài lượng. Nghiền thành bột, mỗi lần 3 gram, cho vào viên nang, uống, mỗi ngày ba lần. Phương pháp này trừ đàm bình suyễn, phù hợp với hen suyễn. [Phương án 8] Ma hoàng chế 9 gram, câu đằng 15 gram, đình lực tử 9 gram, ô mai 6 gram, thiền tuệ 9 gram, thạch vĩ 30 gram, cam thảo 3–15 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày chia làm hai lần uống. Phương pháp này do Viện nghiên cứu y học cổ truyền tỉnh Giang Tô bác sĩ Chu Tú Phong đưa ra, phù hợp với hen suyễn. [Phương án 9] Gạo nếp 100 gram, một ít đường băng. Rửa sạch gạo nếp, nấu thành cơm, hoặc hấp chín trên nồi, nấu riêng đường băng, rưới lên cơm, mỗi ngày ăn trưa ấm, không nên quá lượng. Phương pháp này phù hợp với chứng suyễn cấp do phổi khí hư. [Phương án 10] Gạo trắng đã ngâm nở 150 gram, đường trắng 100 gram, bột bột 25 gram. Lột bỏ vỏ quả hạnh, cho vào nồi, thêm nước và một lượng nhỏ vôi; đun sôi, dùng que tre chà sạch vỏ, bỏ phần tim quả hạnh, cho vào bát, thêm nước, hấp chín trên nồi hấp, lấy ra, cho đường trắng, quả hạnh, nước 250 gram vào nồi, đun sôi mạnh; bỏ bọt, dùng bột bột làm đặc, đổ vào đĩa, ăn đơn hoặc ăn kèm. Phương pháp này phù hợp với chứng suyễn do phổi khí hư. [Phương án 11] Củ cải 1000 gram, bán hạ, phục linh, trần bì, bạch truật mỗi thứ 10 gram, đường trắng tùy ý. Củ cải rửa sạch, thái sợi mỏng, cùng bốn vị thuốc cho vào nồi, thêm nước sắc nửa giờ, lọc lấy nước, đặt nhỏ lửa đun đến khi đặc, thêm đường trắng, khi thành dạng hồ thì tắt lửa, để nguội, mỗi lần 1–2 muỗng, mỗi ngày ba lần, pha với nước sôi mà uống. Phương pháp này phù hợp với chứng trung tiêu đàm thấp, ăn ít, ho, suyễn. [Phương án 12] Dưỡng yết nhân 30 gram, hạnh nhân 10 gram, một ít đường băng. Đun gạo dưỡng yết nhân thành cháo, khi nửa chín, thêm hạnh nhân, đun nhỏ lửa đến chín, thêm đường băng, ăn sáng và tối. Phương pháp này phù hợp với chứng suyễn do ho nhiều đàm. [Phương án 13] Hồ đào nhục 500 gram, bột gừng 0,5 gram, đường trắng 120 gram, dầu thực vật đã nấu chín 1000 gram (thực tế dùng 100 gram), tương ngọt 100 gram, vôi 25 gram. Ngâm hồ đào nhục trong nước vôi khoảng nửa giờ, rửa sạch, vắt khô, cho vào chảo dầu đã đun nóng đến độ chín 70%, đảo đều liên tục, đến khi vàng óng, nổi lên mặt dầu thì vớt ra; để lại 25 gram dầu ở đáy chảo, thêm 70 gram đường trắng, đun đến tan, thêm tương ngọt, bột gừng đảo đều, thêm nước 200 gram trộn đều, đổ hồ đào nhục vào, đảo nhẹ, tắt lửa, đảo đều cho đến khi nguội, cho dầu thực vật đã nấu chín vào đảo đều, làm cho nước sốt cô đặc, bao phủ hồ đào nhục, ăn kèm hoặc dùng làm món ăn vặt. Phương pháp này bổ thận nạp khí, phù hợp với chứng suyễn lâu ngày, ho lâu ngày. [Phương án 14] Gạo tẻ 100 gram, linh chi, hồ đào nhục mỗi thứ 20 gram, muối tinh 2 gram. Linh chi rửa sạch, cắt thành 3 miếng, gạo rửa sạch, hồ đào nhục ngâm nước nóng 10 phút, bóc bỏ lớp vỏ ngoài; đặt nồi đất lên bếp, đổ 1000 ml nước, cho gạo, linh chi, hồ đào nhục vào, đun sôi, nhỏ lửa nấu đến khi cháo nhừ, bề mặt có lớp dầu cháo thì thêm muối tinh để nếm. Phương pháp này phù hợp với chứng ho, suyễn do phổi thận hư. [Phương án 15] Khô cá mực (hải tiếu tiêu) 150 gram, một ít đường đỏ. Khô cá mực phơi khô, dùng dao nhỏ cạo thành bột, mỗi lần lấy 15 gram, trộn với đường đỏ mà ăn, mỗi ngày hai lần, sáng và tối. Phương pháp này phù hợp với chứng hen suyễn, khó thở. [Phương án 16] Một con cá chép, gạo nếp 200 gram. Làm sạch cá chép, giấy gói, nướng chín, bỏ xương, nghiền thành bột, nấu cùng gạo nếp thành cháo, ăn lúc đói. Phương pháp này phù hợp với chứng ho, suyễn. [Phương án 17] Ma hoàng chế, hạnh nhân mỗi thứ 10 gram, hóa trần hồng 12 gram, bán hạ 10 gram, phục linh 15 gram, tô tử rang, la bộc tử rang mỗi thứ 10 gram, bạch giới tử, trà, hà tử mỗi thứ 6 gram, cam thảo 5 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, hai lần uống, trường hợp nặng hơn thì mỗi ngày 1,5 thang, ba lần uống. Phương pháp này do bác sĩ cổ truyền nổi tiếng Cao Thu Đức đưa ra, phù hợp với hen suyễn do phổi tỳ hư. [Phương án 18] Ma hoàng, quế chi, bán hạ mỗi thứ 9 gram, tế tâm 6 gram, ngũ vị tử 9 gram, can khương 6 gram, bạch thược 9 gram, cam thảo 6 gram, sinh thạch cao 30 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này phù hợp với chứng suyễn không thể nằm ngửa. [Phương án 19] Xạ can, ma hoàng, bán hạ, tử thảo mỗi thứ 9 gram, tế tâm 3 gram, sinh khương 9 gram. Nước sắc uống, mỗi thang uống hết trong ngày, chia làm hai lần. Phương pháp này tán hàn bình suyễn, phù hợp với chứng họng có tiếng rít nặng, nhưng ho, đàm không nhiều, khạc không dễ. [Phương án 20] Mật ma hoàng 6 gram, khổ hạnh nhân 9 gram, chích cam thảo 3 gram, mật tô tử 10 gram, bạch giới tử, đình lực tử (bọc vải), mật khẩu đông mỗi thứ 6 gram, mật trần hồng 5 gram, phục linh 10 gram, thanh bán hạ 6 gram. Nước sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương pháp này tên là Thanh ho định suyễn thang, do bác sĩ cổ truyền nổi tiếng Dư Thận Sơ đưa ra, phù hợp với hen suyễn do phong hàn. [Phương án 21] Sinh địa 30 gram, dâm dương hoắc 20 gram, đương quy 10 gram, ma hoàng 6 gram, tử thạch anh 30 gram, nhục quế 3 gram, bạch giới tử 6 gram, lộc giác phiến 20 gram, ngũ vị tử 4 gram, đào nhân 10 gram, tả cật 3 gram. Mỗi ngày một thang, sắc nước, chia làm hai lần uống. Phương pháp này tên là Dương hòa bình suyễn thang, do bác sĩ trưởng khoa Hồ Kiều Vũ đưa ra. [Phương án 22] (1) Thang ho suyễn: Đông qua nhân, uyển cảnh mỗi thứ 15 gram, hạnh nhân 10 gram, ma hoàng chế 9 gram, cam thảo 6 gram, tiền hồ, bách bộ, triết bách mỗi thứ 10 gram, qua lâu 15 gram, lá mơ chế 10 gram, song hoa 12 gram, công anh 15 gram. (2) Thang ho suyễn: Tế tâm 3 gram, bạch giới tử 5 gram, ma hoàng 9 gram, hạnh nhân 10 gram, trầm hương 5 gram, đan nam tinh 6 gram, xuyên bối, bạch tiền mỗi thứ 10 gram, bạch quả 9 gram, song hoa 12 gram, liên kiều 10 gram, tiên hạc thảo 12 gram, tử thảo, tô tử, ngũ vị tử mỗi thứ 10 gram, v.v., nghiền thành bột mịn, dùng nước gừng trộn thành hồ mềm, dán lên các huyệt Phế du, Tâm du, Cáp du, mỗi ngày dán một lần, mỗi lần 8–10 giờ. Thang ho suyễn sắc nước uống, mỗi ngày một thang, nước sắc đầu và nước sắc thứ hai tổng cộng lấy 300 ml, trộn đều, chia làm hai hoặc ba lần uống ấm. Cách dùng thang ho suyễn xem hướng dẫn trên. Phương pháp này do bác sĩ cổ truyền nổi tiếng Trần Đỉnh Kỳ ở Giang Tô đưa ra. Công dụng: tuyên phế, thanh nhiệt,止 ho, hóa đàm, bình suyễn. Dùng trong lâm sàng để điều trị: ho, như viêm phế quản cấp, viêm phế quản mạn tính, viêm phế quản mạn tính. Đàm nhiều, đàm trắng loãng hoặc đặc, vàng, có nhiễm trùng phổi. Hen suyễn, như hen phế quản, viêm phế quản có triệu chứng hen. Phình phế quản, kèm theo đàm có máu. Phế ung, tức là áp xe phổi. Phế liệt, bệnh lâu ngày ho, suyễn, do phổi bất tuyên, ảnh hưởng đến thận, khiến thận không nạp khí. Phổi khí phế giãn, bệnh tim phổi giai đoạn đầu v.v. Nếu sốt, đàm vàng, thêm ngư tinh thảo 30 gram, hoàng cầm 10 gram, đại thanh diệp 15 gram, liên kiều 10 gram, đan tinh 6 gram. Nếu khát nước, đàm đặc, có dấu hiệu âm hư, nên thêm ngọc trúc, thiên hoa phấn mỗi thứ 15 gram, thiên mai đông mỗi thứ 10 gram. Nếu suyễn nặng, thêm trầm hương bột 3 gram (rót vào), bạch quả 9 gram, tô tử, la bộc tử, ngũ vị tử mỗi thứ 10 gram. Nếu họng đỏ, sưng, thêm xạ can, ngưu bang tử, hoàng cầm mỗi thứ 10 gram, bàng căn 15 gram, sơn đậu căn 9 gram. Nếu sợ lạnh, ho, suyễn nặng khi gặp lạnh, khạc đàm trắng loãng, thêm tế tâm 3 gram, quế chi 9 gram, can khương 6 gram, giả bán hạ 10 gram. Nếu ho ra máu hoặc đàm có tơ máu, thêm tiên hạc thảo, mao căn, sinh tạc bách mỗi thứ 15 gram, tam thất bột 3 gram (rót vào). [Phương án 23] Tô tử, địa long, tiền hồ mỗi thứ 15 gram, ma hoàng 5 gram, xuyên khung 15 gram, xạ can, hoàng cầm mỗi thứ 10 gram, khổ sâm 5 gram, bạch tiên bì, lưu ký lao mỗi thứ 10 gram. Hai ngày một thang. Sắc nước hai lần, tổng lượng nước sắc khoảng 300 ml (liều cho trẻ 5 tuổi), chia làm sáu lần uống ấm, mỗi ngày ba lần, mỗi lần 50 ml. Phương pháp này do bác sĩ cổ truyền nổi tiếng Vương Liệt ở Liêu Ninh đưa ra. Công dụng: ngừng hen bình suyễn, hoạt huyết hóa ứ, dùng để điều trị hen suyễn. Phương pháp này tính hơi lạnh, dùng cho giai đoạn hen suyễn cấp ở trẻ em. Bao gồm viêm phế quản hen suyễn ở trẻ em, hen phế quản, viêm phế quản mao quản. Triệu chứng thấy ho, thở khò khè, tiếng rít rõ, thậm chí khó thở, suyễn, bồn chồn, không nằm được, hai phổi đầy tiếng rít. Họng đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, tiểu đỏ, táo bón. Nếu suyễn nặng, tăng liều tô tử, thêm mã đề; nếu hen nặng, tăng liều địa long; nếu đàm nhiều, thêm qua lâu, đình lực tử, đan nam tinh để trừ đàm, bình suyễn; nếu hen lâu, nhiều ứ huyết, tăng liều đào nhân; nếu suyễn, tức, kèm táo bón, nhẹ thì dùng la bộc tử để giáng khí, trừ đàm, tiêu thực, thông tiện; trung bình thì thêm chi thực, nặng thì thêm phiên tả diệp để hạ đại trường, thanh phổi, bình suyễn. [Phương án 24] Thịt ức gà tươi 150 gram, tóc sứa đã ngâm nở 300 gram, lòng trắng trứng ½ quả, cọng rau mùi 15 gram, muối tinh, gia vị, giấm, bột tiêu, dầu mè, nước gừng, hành, gừng, tỏi, dầu thực vật, bột nước. Thịt ức gà thái sợi nhỏ, cho vào bát, thêm lòng trắng trứng, bột nước, dùng tay trộn đều; cọng rau mùi thái đoạn, hành, gừng thái sợi nhỏ, tỏi thái lát. Cho dầu thực vật vào chảo, đun đến độ 4–5 thành, cho thịt gà vào, dùng đũa xới đều, khi chín thì vớt ra. Tóc sứa ngâm nước nóng, vắt khô. Cho một ít dầu thực vật vào chảo, đun nóng, dùng tỏi xào thơm, cho giấm vào, thêm nước hầm, cho thịt gà, tóc sứa vào nồi, thêm muối tinh, gia vị, nước gừng, bột tiêu, hành sợi, gừng sợi, cọng rau mùi, khi nước sôi thì vớt bọt, nhỏ dầu mè, múc ra bát là xong. Món ăn này dùng trong bữa chính, mỗi ngày một lần. Tóc sứa có vị mặn, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt hóa đàm, mềm cứng tiêu tích, nhuận tràng thông tiện. Kết hợp với thịt gà ngọt ấm, bổ khí, bổ trung, đặc điểm tác dụng là “tuyên khí, hóa đàm, tiêu tích, hành thực mà không tổn hại chính khí, bổ hư,扶 chính mà không ngăn trở trừ tà”. Có hiệu quả điều trị hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, hoặc tăng huyết áp, đàm, băng huyết v.v.
|