Đột quỵ được chia thành hai loại chính: thiếu máu và xuất huyết. Đột quỵ thiếu máu bao gồm nhồi máu não, tắc mạch não, co thắt động mạch não; đột quỵ xuất huyết bao gồm xuất huyết não, xuất huyết dưới màng nhện, v.v. Đột quỵ thường xảy ra ở người trung niên và cao tuổi. Trước khi phát bệnh, bệnh nhân thường có các triệu chứng như chóng mặt, mệt mỏi toàn thân, tê liệt tứ chi hoặc có tiền sử bệnh gáy cổ lâu năm, tăng huyết áp, v.v. Người bị đột quỵ thiếu máu thường có biểu hiện ngất xỉu đột ngột, nôn ra bọt foam, méo miệng, co giật hoặc liệt tứ chi, sau đó vài ngày đến một ngày xuất hiện liệt nửa người – tức là triệu chứng liệt nửa người. Châm cứu điều trị đột quỵ có tác dụng điều hòa hai chiều (bao gồm tan huyết khối, cầm máu), giúp giãn cơ trơn mạch máu cổ – não và giảm áp lực trong sọ. Nhiều người khi bấm huyệt cho người bị đột quỵ chỉ tập trung vào tay chân, do đó hiệu quả kém. Dưới đây là phương pháp bấm huyệt điều trị đột quỵ: Bước bấm huyệt: Đầu tiên bấm huyệt vùng vai cổ và đầu mặt, tiếp theo bấm lưng hông, cuối cùng bấm tứ chi và bụng ngực. Lực bấm từ nhẹ đến nặng, từng bước tiến triển. Số lần bấm: Mỗi ngày bấm 1 lần, mỗi lần kéo dài 1 giờ. Phương pháp bấm: Trong vòng 1 tuần đầu tiên sau khi phát bệnh, bệnh nhân nằm ngửa, đầu và thân trên hơi cao hơn chân; về sau có thể nằm ngửa, nằm nghiêng hoặc ngồi. Khi bấm huyệt đầu cổ: 1) Dùng ngón tay kẹp, bóp các cơ gáy, cơ tam giác và các kinh mạch liên quan như kinh đốc, kinh bàng quang, kinh đại trường, kinh tam tiêu; 2) Dùng ngón tay bấm huyệt các cơ vùng vai cổ và các huyệt như Thiên trụ, Nha môn, Phong trì, Giáp cảnh, Liêm tuyền; 3) Dùng ngón tay day bấm các cơ vùng mặt đầu và các huyệt như Bách hội, Tín hội, Ấn đường, Thái dương, Nhân trung. Khi bấm huyệt lưng hông: Dùng ngón tay hoặc gót bàn tay day bấm các cơ sống lưng, cơ thắt lưng, cột sống và các kinh đốc, kinh bàng quang liên quan. Khi bấm huyệt tứ chi trên: Dùng ngón tay kẹp, day bấm cơ tứ chi bên bị bệnh và các huyệt như Thiên phủ, Khúc trạch, Thủ tam lý, Ngoại quan, Nội quan, Hợp cốt. Khi bấm huyệt tứ chi dưới: Dùng ngón tay kẹp, day bấm cơ tứ chi bên bị bệnh và các huyệt như Huyết hải, Túc tam lý, Ủy trung, Dũng tuyền. Khi bấm huyệt ngực bụng: Day bấm cơ vùng ngực bụng và các huyệt như Hoa cái, Ngọc đường, Thiêu trung, Trung quản, Thiên khu, Khí hải.
|